Thứ Ba, 8 tháng 8, 2023

TRI TÔN, SWATON, TZAITÓN (Lưu Nhơn Nghĩa - 2006) Hồi xưa, theo thầy Xét, giáo viên trường Việt Miên Tri Tôn, nói chữ Swaton, nghiã là khỉ đu, có người nói là khỉ kéo. Ngày xưa, chừng 100 năm trước, khỉ nhiều, dám ra kéo người. Chữ Swaton phải có trước, vì xứ nầy thuộc Miên lâu đời. Dân Miên ở dọc theo chân núi. Từ chữ Swaton, dân Triều Châu đọc thành âm Tzai tón, âm Hán Việt của Tzaitón là Tri Tôn. Thứ tự nầy xem hợp lý. Dân Miên ở Sóc quanh núi, chỉ có các gia đình công chức, lai Tàu mới ở gần chợ. Quanh chợ người Tàu mở tiệm buôn. Dân Việt sống theo kinh làm ruộng. Ba nhóm nầy gặp nhau tại chợ, buôn bán trao đổi, buổi trưa, ai về với Cộng đồng mình, như nước với dầu khó pha trộn. Dân Tàu có thể hoà đồng với dân Bòn ca, buôn bán, tin nhau, lại có thể sống như dân Việt vì cùng văn hoá, phong tục. Sau 1960, mới thấy Việt hoá nhiều, qua đường học vấn, ai cũng phải học tiếng Việt, trường Việt, nếu không muốn thiệt thòi. Dân Việt và Miên khó hoà đồng vì lý do địa lý, một bên ở trong Sóc gần núi, chiều về, quay quần trong Sóc, ra chợ xa làm gì. Dân Việt ở ruộng, không lẽ vô núi thăm ai ở đó. Dân Tàu quanh chợ đa số gốc Triều Châu, có vài gười Hẹ (Khách nán), Phước Kiến, hình như không có người Quảng Đông. Họ từ bên Tàu qua, thế hệ đầu, hoặc thế hệ thứ ba, bốn, tên còn âm Tàu, Nghỉ ( Nghiã ), Khén ( Cường ). Củ tư tôi tên Dù Ỵ (Như Ý + ngọc Như Ý), ăn Tết ai cũng thích ổng ghé nhà lấy hên. Lúc học trường Việt, đọc sử, thấy tướng Trần Bình Trọng anh hùng, ổng đổi tên luôn. Người trước tôi một thế hệ, tên đều đọc theo âm Tàu, Kia Mẫu, Lào Tia, Tà Dú. Danh xưng gia đình kêu theo Tàu, hia, xố (chị dâu), củ, kiểm, ý, tiả … Chợ có 3 tiệm cà phê hủ tiếu lớn. Tiệm ở chợ của chệt Can, bán đắc buổi sáng, vì ngay địa thế đầu chợ, góc đường. Tiệm chệt Xên Kim ngả tư đường ra Châu Đốc, đắc nhứt dân Sóc ra và ngay bến xe. Tiệm Nam Châu là căn phố lọt trong nên bất lợi. Chiều chiều, dân Tàu thỉnh thoảng tụ tập tiệm cà phê bàn chuyện thời sự, uống ly cà phê đen, mấy bình trà theo sau miễn phí. Thường bàn chuyện làm ăn, về Chợ Lớn, chuyện bên Tàu cho người chưa về Tàu lần nào nghe, mấy ai biết chữ Tàu. Năm đó, báo Tàu Chợ Lớn có đăng trận đánh ở Cà Mau, quận Đầm Dơi. Đọc chữ "bian fú" (biên bức), mấy ông ngồi cả buổi tối quanh bàn, tốn bao nhiêu bình trà, chệt Xên Kim sốt ruột, biết là loài thuộc bộ trùng, mà không biết tiếng Việt là con gì. Củ Khai Phến, có học trường Tàu Bạc Liêu, lại ở gần Cà Mau, nói đúng là con dơi, hay quá. Từ đó có uy tín, dù củ chỉ đủ khả năng ra toa thôi. Có lần, củ viết chữ Thiền, bộ "y", thay vì bộ "kỳ" vài người biết chuyện, nói móc, "Chùa thiếu áo, lạnh quá, được củ Phến cho cái áo mặc cho ấm, có phước". Mạnh ai nói thổ ngữ mình, có ông thầy Tàu, ít nói, không chơi với ai, ý như ông là dân có học, biết "Kọc Ngứ" (Quốc ngữ = tiếng phổ thông = mandarin), nhưng ông không làm thầy, chỉ lo bán lá lợp nhà. Hầu hết nói thì nhiều, đọc viết được thì ít. Xứ dựa vách núi, thời trước, di chuyển đến vùng nầy rất khó khăn. Mãi tới ngày gần đây, nhiều người chưa ra tới Châu Đốc, tỉnh gần nhứt. Dân Việt Miên Tàu có bao nhiêu chữ xài bấy nhiêu , đủ rồi. Lâu lâu, có gánh Sơn Đông, hát bội cải lương tới hát, khi dọn đi, để lại vài từ ngữ hay hay, bà con Việt Tàu (trừ Miên) mang ra áp dụng triệt để. Gánh Nam Hồng hay Công Lập để lại chữ "dĩ vãng" hay quá. Cái gì cũng "dỉ dảng", bán lổ lả cũng "dỉ dảng". Già Lưu minh Đơ, hiền lắm, vợ đưa tiền đóng hụi, ghé đá gà, thua sạch, tối mới vác mặt về. Vợ hỏi, giả trả lời, "lở vô trường gà, dỉ dảng rồi", vợ nổi cơn làm dữ quá, giả bỏ đi vừa khóc "tao đi tự vận dỉ dảng cho mầy coi". Khuya chờ không thấy giả về, nhà tốc đi tìm, sợ giả cuồng trí "dỉ dảng" thiệt, thấy giả đang ngồi sau lò heo, bẻ mía nhai rào rạo. Chữ "hoàn cảnh" cũng hay tuyệt. Xừ Châu, làm tà lọt trong Văn phòng Xã, mua khoanh dây chì, tôi vác hai khoanh dây chì đi theo, nghe nó nói trầm trầm, "Nghỉ à, tao không học cao như mầy, vì hoàn cảnh, mấy thấy hôn? , hồi nhỏ hoàn cảnh cha mẹ tao nghèo, không có hoàn cảnh học. Mầy có hoàn cảnh cha mẹ có tiền" … Tôi vác một khoanh dây chì trên vai, nặng, xách thêm khoanh khác cũng nặng, tớí chổ muốn hụt hơi. Hoàn cảnh mà, biết sao, Châu ơi. Sao mầy không thông cảm xách tiếp cho tao một khoanh ? Từ củ Khai Phến, ra chữ "màu thénh" (mâu thuẫn, hình như củ có kể chuyện cái mâu và cái thuẩn trong chuyện cổ Tàu). Ông già tôi thấm ý, vừa về gặp thằng em tôi trốn học, ông ứng dụng ngay. "Cái thằng mâu thuẫn mà, có tiền lo cho nó học, không lo học, mâu thuẫn hết sức. Lần sau, thằng em khác chạy Honda té bể gối, ông ngồi trên chỏng, "đã dặn chạy chậm mà không chịu chạy chậm, mâu thuẫn quá trời, con cái bây giờ toàn là quân mâu thuẫn" . Chữ "thông cảm" thông dụng trong giới xe đò. Đậu chờ khách cho đã, mở máy bóp kèn, "lên xe đi, chạy rồi cô bác ơi ", rồi tắt máy đậu chờ, ai than phiền thì "Thông cảm mà cô bác ơi, bửa nay đói quá, thông cảm, cho thêm 5 đồng tiền cái thúng bưởi, nặng quá, thông cảm chị ba ơi". Gặp Cảnh sát, "thông cảm mà xếp ơi", cộng với cái bắt tay kẹp vài chục cho thông cảm. Lưu Nhơn Nghĩa (2006) Hình ảnh từ Internet.

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2022

TRƯỜNG QUỐC GIA SƯ PHẠM FB Lưu Nhơn Nghĩa Mấy ngày nay, bịnh thì không nhớ, tôi lay hoay tìm tài liệu và những kỷ niệm của ngành Sư Phạm, ráng viết truớc khi vô bịnh viện. Thầy Lê văn Thời kể : thầy học Ecole normale ra, năm nay thầy chừng 100 tuổi, ai muốn biết cứ đọc cuốn " Hơn nửa đời hư " của ông Vương Hồng Sểnh. Tôi chỉ kể lại thời sau 1954. Ông Huỳnh Lộc kể : Ông học khoá 3 năm, điều kiện thi , Bằng Trung học Đệ nhứt cấp, khóa trình 3 năm, ra dạy Trung học Đệ nhứt cấp, đây là khoá cuối cùng hệ thống nầy, niên khóa 1960-63, ngạch Giáo học bổ túc. Trụ sở trường ở đường Thành Thái, Sài Gòn. Ông Huỳnh kim Quế, sinh năm 1933 kể : Trường Quốc Gia Sư Phạm đặt trụ sở tại trường Kỹ thuật Cao Thắng ngày nay. Ai có Brevet ( Trung học Đệ Nhứt cấp sau nầy ), chỉ cần học 1 năm, năm 1949-1950. Năm này, vì nhu cầu gia tăng, trường tuyển 100 giáo viên, ghi tên thi có 60 người nên tất cả đều được nhận. Học sinh từ 17 tuổi đến 40 tuổi, lương $4075, cao hơn lương thư ký $ 200 ( tôi ăn cơm tháng $200/tháng). Ông Quế học niên khoá 1951-1953, điều kiện thi, chứng chỉ lớp 3ème année, Đệ ngũ hay lớp 8. Học kỳ 3 năm. Thi ra trường có bằng Brevet, ngạch giáo viên Tiểu học, dạy lớp Nhứt, lớp Tiếp Liên , rớt thì dạy Sơ cấp, năm sau thi lại, đậu thì lên ngạch, rớt thì năm sau tiếp tục thi. Ông Lưu Văn Nghĩa, hiện ở Tây Đức, sinh năm 1937, bắt đầu khóa Sư Phạm hệ thống mới, điều kiện: bằng Trung học Đệ Nhứt cấp, học 1 năm, năm 1960. Học bổng $800/tháng, ra trường $4075/tháng,ăn cơm tháng chừng $550-$600/tháng, phụ cấp vợ $700/tháng, con $600/tháng, chỉ có vợ chánh mớì được phụ cấp, vợ bé không được. Nếu có bằng Trung học ĐNC, đi dạy, lương $2300/tháng. Ông già tôi nghiến răng nhức xương về ước mơ tôi được vào Quốc Gia Sư Phạm. Thạch ngọc Múi vô Sư Phạm SG năm 1961, Bằng Tú Tài 1, khóa 2 năm, ngạch Giáo học Bổ túc, hình như là khoá đầu hệ thống nầy. Tôi thi vào mà rớt, hai bài Toán Lý hóa không trúng được nửa câu. Không biết lương bao nhiêu. Đại khái, ở quê, mỗi tháng $1200 là dư sống, trước năm 1963, chỉ hưởng chừng 6 năm. Sau nầy lạm phát nhanh quá, giáo viên khốn đốn. Đó là truờng QGSP Sài Gòn. Năm 1963, đã có trường Sư Phạm Long An, không biết Sư Phạm Vĩnh Long bắt đầu từ năm nào. Sau có SP An Giang, SP Sóc Trăng mở từ năm 1973. Khi bỏ thi Tú Tài 1, muốn thi vô QGSP phải có bằng Tú Tài 2, học 2 năm, dạy Tiểu học, có khi dạy Trung học. Năm 1963, có mở khóa Sư Phạm ban đêm, công chức Sài Gòn có Tú Tài 2, có thể xin vào học dễ dàng, trụ sở tại trường Đại học Sư phạm , cạnh trường Khoa học, ngạch Giáo sư Đệ nhứt cấp. Năm 1957, tôi học Đệ ngũ, có thầy Phạm Lự, tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm ( Tú Tài 2, thi vào học 2 năm), không biết khóa nầy ngưng năm nào. Sau các giáo sư tốt ngiệp Cao Đẳng Sư Phạm đều chuyển sang ngạch Đệ nhị cấp nếu có chức vụ. Ông Bùi văn Đoàn, khóa Đại học Sư Phạm đầu tiên 1958-1960, kể. Khóa 2 năm, điều kiện Chứng chỉ năm đầu Văn khoa hay Khoa học thi vào, rất ít sinh viên, nên thi rất dễ, ngạch Giáo sư Đệ nhị cấp hạng 4, chỉ số lương 470 . Ông Đoàn đổi về dạy trường Trung học Thoại ngọc Hầu, Long Xuyên, tô phở Bắc giá $3, cuốc xe lôi khá dài $2, chi tiêu các cuộc $1000/tháng, lương trên $5000/tháng, có thể mỗi tháng mua 1 lượng vàng, tương đương Aus$800 năm 2007. Năm 1960, đã có khóa ĐHSP, Tú Tài 2 + 3 năm, cũng ngạch GSTHĐ2C. Năm 1963, khóa Tú Tài + 4 năm, thêm 1 năm, nhưng ngạch như cũ. Niên khóa 1964-65 không có khóa nào. Năm 1966, bắt đầu khóa Dự bị Đại học Văn Khoa hay Khoa học + 3 năm, tất cả là 4 năm. Khóa nầy kéo dài tới 1975. Năm 1970, lương trừ tiền cơm Quân trường Thủ Đức còn được hơn $8000, lượng vàng $12 ngàn. Lương năm 1975, ngạch Đệ nhị cấp hạng 2, $34000, lít xăng $250, lượng vàng tháng 2-75 chừng $125000. Tôi thuộc nhóm nầy, nhớ đến đâu kể đến đó. ĐHSP gồm 2 ban, Văn chương và Khoa học, mỗi ban có 2 ngành, Đệ nhứt cấp và Đệ nhị cấp, thi vào phải có chứng chỉ năm đầu Văn khoa hay Khoa học. Đ1C học 1 năm, Đ2C học 3 năm. Ban Khoa học gồm : 1 Vạn vật 2 Lý Hoá 3 Toán Ban Văn chương gồm 1 Triết học 2 Sử Địa 3 Việt Hán 4 Pháp văn 5 Anh văn Nhóm Toán Khoa học, học bên dãy Khoa học, ít qua lại, dù cùng học ban Văn chuơng hay Khoa học cũng chỉ biết lớp mình thôi. sau nầy nhờ đi chấm thi hay huấn luyện Quân sự mới biết nhau. Sinh viên các môn có lối cư xữ riêng. Ban Vạn vật. Sinh viên ban nầy không nổi,đông nhứt ban Khoa học, nhưng có nữ sinh viên đẹp tươi mát nhứt bên khối Khoa học. Biết thân, môn học nghe nói dễ, không cần thông minh, chỉ cần học gạo là đậu, tỷ số ra trường cao. Ra trường chỉ dạy tư thêm, không mở cours luyện thi riêng được. Ban Lý Hóa. Sinh viên ban nầy không có mặc cảm với ban Toán, tính theo hệ số thông minh,ngang ngửa với sv Toán, ra trường có thể dạy tư và mở cours, tiền bạc không kém Toán. Toán. Năm tôi học, ban nầy rất ít sinh viên, nghe nói khó đậu, phải thông minh lắm mới dám học Toán. Hầu hết nam sinh viên, chỉ có duy nhứt một nữ sinh viên. Chị nầy rất được ngưỡng mộ. Bọn nó nói cô mập và nhan sắc tàn phai, vì học Toán khô khan. Toán là môn tàn phá sắc đẹp, nghe nói vậy, tôi không dám phẩm bình cho mang vạ miệng. Sinh viên Toán đánh xì phé và xập xám hay lắm, vì giỏi Toán. Khi đi gác Sinh viên học đường hay trong trại lính, mở sòng bạc, SV Toán thường kiếm tiền khá. Dĩ nhiên có vài ngoại lệ. Chàng Trần Ch., hôm ấy thua liên tiếp mấy đêm, mượn tiền bạn đòi không trả. Trong câu chuyện cải nhau, Ch. chỉ tay lên trời nói, " Toán là một Khoa học chính xác nhứt, Toán là môn học gần nhứt với Thượng Đế, ". Anh cho mượn tiền đâu có chịu nhịn, " Ê, mầy gần ai kệ mẹ mầy, mượn tiền thì phải trả ". Ban Triết học. Mấy anh Triết không anh nào giống anh nào. Anh nào cũng nghiêm trang, đi đứng ra vẻ Triết, ăn nói rất Triết, khi cười một mình, chỉ có ta mới hiểu ta, khi nhìn đời bằng nửa mắt, khi lắc đầu hay gật đầu cuời như Francois Sagan, un certain sourire, khi bất cần đời, áo quần lếch thếch như Triết gia theo phái existencialism của Jean Paul Sartre ( có anh đọc là Xát trờ ). Vì quá siêu hình, nên không chơi được với ai. Mấy anh là người cõi trên. Sau năm 1966, vì ít nhu cầu, ban Triết dẹp. Ban Sử Địa. Sinh viên ban nầy kiến thức thông kim bác cổ, nắm vững thiên văn địa lý, rành chuyện năm châu bốn biển. Biết Nga Mỹ nó muốn gì, hốt nắm cát biết có vàng. Vào quân trường Thủ Đức, anh em mới biết tài dân Sử Địa. Năm 70, khóa 4/70, bị động viên. Môn địa hình, đi phương giác, chấm tọa độ, vòng cao độ..., mẹ ơi, bọn Văn chương gốc ban C ở Trung học như điếc. Mỗi lần đi hành quân, tìm cọc tọa độ, cứ đi theo mấy anh Sử Địa thì yên chí. Năm đó, Mỹ cúp quân viện, quân trang quân dụng bị cắt, nhiều đứa không cần bắn đạn mã tử, khỏi lau súng. Môn tác xạ súng cối, Bazooka, hạn chế đạn, mỗi Trung Đội chỉ đuợc bắn tối đa 10 viên, thường có Thanh tra kiểm soát tại chổ. Hôm bắn thực tập biểu diễn cho Thanh tra coi, dĩ nhiên 3 anh Sử Địa có khả năng đuợc chọn bắn, danh dự lắm. Cả Đại đội chăm chú nhìn. Một anh cầm ống dòm chấm tọa độ, một anh điều chỉnh súng cối 60 ly, " chuẩn bị, chuẩn bị, sẳn sàng, sẳn sàng, bắn ", viên đạn phụt đi, thay vì hướng đông, nó bay về hướng Tây, rớt xuống trật mục tiêu, mấy con bò ăn cỏ trong tầm đạn một phen hoảng vía bỏ chạy. Viên Trung uý huấn luyện viên la, " Ê, anh quay tay quay chiều hướng ngược.". Ban Việt Hán. Xui là năm tôi chỉ có chừng 7 cô học, không thấy ai chim sa cá lặn, hương trời đắm nguyệt say hoa, xin lỗi, không phải ý kiến tôi. Nhiều anh gốc Hoa nói tiếng Quảng Đông. Một anh gốc Quảng Đông tán tỉnh cô Sử Địa, hôm dán kết quả thi các môn, nặng nhứt là môn Hán văn, dân gốc Việt ớn, hay rớt môn nầy nhứt. Trên đầu bảng, chàng Việt gốc Hoa đậu đầu, tên anh chỉ có hai tên, nghĩa là tên và họ, H M , không có tên lót , trai văn gái thị như Việt Nam, môn dễ là môn Ngữ học VN, anh lại rớt. Cô Sử Địa nhìn lên bảng bỉu môi, "thấy là biết Tàu rồi". Đi ngang qua lớp, nghe anh chị ban nầy ngâm thơ cổ, gân cổ cải, " chữ Việt gồm bộ "tẩu " và chữ gì, nét đá lên khi viết thảo, có thể là chữ " nhung ", Việt Nam nghĩa là mặc nhung y đi về chinh phục phương Nam. Hay, hào hùng quá ! Cũng có thể là chữ " Tuất ", nhà Thanh không chịu phong cho vua Gia Long là Đại Nam hay Nam Việt quôc vuơng. Đại Nam, lớn lối hả ? Nam Việt, vậy là bắt chước Quang Trung, Triệu Đà , ý nói phía Bắc là Bắc Việt hả ? chữ đó là chữ Tuất, chó chạy cong đuôi về phía Nam, đừng có quay đầu trở lại. Hay là chữ cân là cây búa, đúng theo ý, ta xách búa về phương Nam khai sơn phá thạch cho lúa ngập những cánh đồng bao la. Hay, cải nữa đi. Ban Pháp văn. Sinh viên ban nầy, chừng hơn 15 người, có trình độ, hầu hết con nhà giàu, học thức, gốc trường Pháp ra. Nam SV tướng rất sang, nói tiếng Pháp như Pháp. Nữ SV thì khỏi nói, dáng khoẻ mạnh, mặc đầm, dù áo quần cũ cũng trang nhã, mặc thế nào cũng đẹp tự nhiên, thường đi học bằng xe hơi, không hiểu sao các cô lại chọn ngành Sư Phạm, vì ra trường, ít thấy các cô đi dạy, các cô có gia đình cao sang hoặc xuất ngoại sang Pháp, hay dạy các trường tư thục Pháp ở Sài Gòn. Các cô ban khác cũng may đồ đầm mới mặc, nhưng dáng còn ngượng nghịu mất tự nhiên, không cách gì giống mấy cô Pháp văn thiệt. Các cô Pháp văn nói vậy, tôi lập lại, đừng trách tôi. Chưa thấy cô nào lấy anh gốc Sư Phạm ra, ai thèm theo mấy người đi tỉnh nhà quê. Ban Anh văn.. Tôi rành ban nầy nhứt. Nhờ viện trợ Mỹ, Pháp bắt đầu lung lay. Bọn tôi được nâng đỡ, Giáo sư Lê Văn là thầy vừa là Giám Đốc ban Văn Chuơng. Anh văn đang thịnh hành, giờ dạy tư, dạy kèm, kiếm tiền dễ. Lớp tôi ra trường trước sau 32 đứa, còn 5 đứa ở VN. Đây là lớp quá đặc biệt về vợ con. Trong lớp nhiều phe nhóm. Nhóm dạy tư, phát những tấm quảng cáo " tốt nghiệp MA, HC..." ở Mỹ, bạn bè có đứa chơi ác, lấy tấm quảng cáo dán ngay phòng ông Giám Đốc. Bọn nầy chỉ dạy Đệ Nhứt trường tư và mở cours, năm nào cũng thi kỳ hai, vậy mà dạy tư rất thành công. Ra trường, không cần chọn nhiệm sở, mặc áo 4 túi ở Sài Gòn không bị động viên, xách cặp cho mấy ông lớn, có anh hãnh diện với học sinh trường tư, trong đó có em họ tôi, rằng họ là giáo sư cao cấp, được giữ lại Sài Gòn, bọn tôi bị động viên long đong ở quân trường. Mà tên học thủ khoa không dạy được trường tư, dạy học trò không hiểu. Bọn tôi gầy nhóm 6 đứa, sưu tầm bài vở soạn tài liệu chia nhau học, giữ kín. Bọn nhóm khác cũng giấu. Thời đó mà có đứa gốc Bắc trong nhóm tôi chưa biết Chợ Lớn ra sao, nó chỉ lẩn quẩn ở khu quận Nhứt, giáo dục theo Tây. Sau nầy dẫn nó đi ăn mì lòng đèn Năm ngọn, hít hà ngon quá, đòi đi hàng tuần tới khi ra trường đi lính. Ở nhà hàng Đại La Thiên, có màn, khi hút thuốc, có cô phì phà chảy đẹp, hai tay trắng, quẹt lửa cho khách. Sau vụ đó, bọn nó bắt đầu hút thuốc . Lại nhớ dẫn bọn nó ăn cơi nững té " kê noãn trà ", trúng gà trà ở hẽm Nguyễn Tri Phương, các cô Lý xiểu chể tới già H già còn mê. 6 đứa bây giờ còn 5, Quách Hên đã đi, rồi tới tôi, còn 4. Bọn tôi bị nhốt trong chương trình nặng phần trình diễn, không mấy thực tế. Môn Ngữ học ( Linguistics ), không biết học làm gì, nhồi nhét đến độ bọn nó tiếu lâm hóa các từ ngữ chuyên môn thành từ ngữ thô tục. Lão Prof. Lombardi mập, ngồi xuống tới hết giờ với gói thuốc lá, Lão Clark giảng văn chương Anh, chữ 't' lão đọc như âm 't' VN, hỏi, lão nói ," Chớ nghi ngờ người gốc Đại học Oxford ", Lão Klotz nhảy lên nhảy xuống đóng vai làm mục sư trên bục giảng trong the Scarlet letter, mặt giả đú đởn ngạo ông mục sư. Mụ La Porte dạy Pháp văn, mở miệng là chửi Mỹ. Ba năm học, tập sự dạy mấy tiếng và 15 phút ra trường, không khùng là may. Mụ Culpepper, cái máy chém. Thằng Lâm cay cú, dạy position của noun và adjective trong tiếng Anh và tiếng Pháp, nó cho thí dụ, ' she has a long neck," tiếng Pháp ," Il a le cou long ". Ngày chọn nhiệm sở mới rõ mặt ai trắng ai đen. Nói là chọn tỉnh nầy, lúc ra Hội đồng Đại học thì chọn tỉnh khác, người chọn sau chới với, có khi chọn chổ xấu dù còn chổ tốt. Tôi vuớng vô trường hợp nầy, nhưng ở phía may. Ngày 12-10-69. tất cả SV tốt nghiệp khóa I ra chọn nhiệm sở đã thông báo mấy tháng trước. Tên K trên tôi 3 hạng, nói nó chọn Rạch Giá, tôi chọn Củ Chi, cách Sai gòn 20 km, sáng đi chiều về, tuần 3 ngày, 3 ngày còn lại dạy tư Chợ Lớn, đêm dạy kèm mấy thằng Tây con lương cao. Dĩ nhiên luôn luôn chọn thêm vài nhiệm sở phòng hờ. Phút chót nó nói chọn Củ Chi, tôi chới với, bất giác nói," mầy đi Củ Chi tao đi Rạch Giá, " nói là nói, thằng bạn thân ngồi cạnh nói nhỏ, còn Bến Lức, lại hiểu lầm có sự trao đổi ăn tiền, mà ăn tiền thật. Nghe tôi quạu nói, tên Th. dặn K. chọn Vũng Tàu, vì TH. đậu thấp. K. lên chọn Vũng Tàu, theo dự định Th sẽ chọn Củ Chi đổi cho K, mánh mung gì đó làm cô bạn chọn Vũng Tàu xanh mặt, phải chọn Cần Thơ. K. không ngờ tôi đậu trên TH., tôi chọn Củ Chi, hắn tiu nghĩu nghe anh khinh ra mặt. Nhóm tôi 6 đứa còn thân nhau. Lúc ra trường bàn tới gia đình, tên trưởng thành bàn ra, chưa nhà cửa, chưa thành , bao nhiêu cơ hội học bỗng, chưa về được SG, lấy vợ chi cho vướng, lại phải tìm người có căn bản, 1 đầu lương khó kham. Đang đi dạy, bị động viên bất ngờ, lại mất thêm thời gian, mãi lo tính toán, đổi đời, đi học tập cải tạo về hơi sồn sồn. Tính già thành non. Có đưá bây giờ con mới 9 tuổi, đứa nào cũng trên dưới 64. Nhớ ngày được biệt phái, tên bạn lè phè trong quân đội có sao mặc vậy, hắn lại may mấy bộ quân phục mới, " Biệt phái về dân sự, cần gì quân phục. Hắn nói tỉnh bơ, ' Mặc để chạy Lambretta xuống tỉnh đó anh ", Thì cứ mặc bình thường có sao đâu, " Không có bằng lái xe đó anh ", Vậy thì thi bằng lái xe. Hắn nói thật, '" thi biết bao nhiêu lần mà không đậu đó anh ". Bằng Đại học Sư phạm dễ hơn bằng lái xe. Viết ra cho bà con biết cái mặt trái của nghề giáo. Học sinh tưởng thầy là nhứt trên đời. Đúng ra, đó là cái nghề không có quyền có thế, muốn ăn cùng không được, muốn quậy thì ngại. Giáo sư ban Việt, Sử Địa cần chức tước, Giám học, Hiệu Trưởng, chỉ có con đường đó tiến thân. Hiệu trưởng mới lên Thanh tra, Giám đốc. Đám Toán, Lý Hóa, Sinh ngữ lo mở Cours kiếm tiền. Ở trong chăn mới biết chăn có rận, tôi không quơ đủa cả nắm, nhưng anh giáo thua anh thiếu uý về uy quyền. Tỉnh tôi dạy, chưa thấy tên nào làm tôi phục, nhứt là khi ăn giỗ. Tên Hiệu trưởng trường tôi cúi đầu đốt thuốc cho tỉnh trưởng, class B, ngạch B, luồn cúi để làm Trưởng ty, mẹ, nó nhục làm sao. Đối với đồng nghiệp thì hống hách, ăn gian giờ Thể dục, nữ công, vẽ, không ai dạy, cứ khai rồi chia nhau, làm học bạ giả, rồi vợ hắn thầu xây cất, bàn ghế. Tên khác bị bắt gian lận thi Đệ thất, đúng ra hắn mới ở Tiểu học lên , chân ướt chân ráo bị gài , ngồi ăn, vừa than, " Hồi đó giờ tôi chưa có để người ta ở trên phiền á ". Mặt hắn thật hèn. Năm 1972 ở Tây Ninh, giám khảo gốc cùng trường chơi nhau.Tỉnh trưởng đãi ăn, nhìn thấy tư cách khi ăn, biết người. Sau nầy có Ty học chánh, cơ hội ăn. Ở Âu Mỹ, không có thành ngữ " Không thầy đố mầy làm nên ". Giáo viên không đòi hỏi sự kính trọng của học sinh. Khi vào Sư Phạm, đã có qui luật rồi, thích thì làm, không thì nghỉ, lảnh lương chứ dạy không đâu. Tôi than phiền anh cảnh sát phụ cấp lương cao, anh nói khi gặp bọn cướp có súng, anh hứng đạn, còn bọn giáo viên có 12 tuần holiday sao chưa ai than phiền ? Sau 1970, lạm phát phi mã làm nghề giáo lung lay, nhứt là ở quê, có gia đình sống chật vật lắm, túng làm càn. Xưa thầy Tín dạy thêm giờ, đó là tình thương với học trò, thời đó nghề giáo, công chức, nếp sống rất cao, không cần tham nhũng. Gần chết rồi, ngày mốt vô bịnh viện không biết ngày ra, sợ gì không nói hết. Nằm xuống, ai chửi người ấy nghe. Chung cuộc, tôi may mắn chứ không phải tốt hay giỏi gì. Biết bao tên bạn giỏi mà nghèo không có cơ hội. Nhắc tới muốn khóc, thằng Điểm gốc Tri Tôn ra Châu Đốc học, ở nhà bà con, phải tiếp dọn hàng không rảnh tay. Trưa thứ bảy, tôi leo lên xe nhà về Tri Tôn, nó theo ra bến xe đứng nhìn, " mầy sướng quá, tao nhớ má tao mà không tiền về ". Thời đó ở VN, thảnh thơi, không ai làm khó dễ, tôi không ham danh chức, nhẹ người. Tôi chỉ ham tiền, nhưng hà tiện ít xài, ham sắc mà chưa gặp người. May mắn có việc làm tốt, ngoài trường công, dạy thêm trường Tàu, lãnh luơng năm 12 tháng, ban đêm kèm mấy thằng Tây con và mấy đứa Tàu học Tabert, Bác Ái từ nhỏ tới lớn, ăn cơm nhà. Khi về Sóc Trăng, cơm nhà chệt ( chú ) tôi sẳn, sáng hủ tíu tiệm hia Tỷ con Túa Pề ( bác lớn ) Thêm Phên, trả tiền không lấy. Ông già tôi chở nước mắm xuống bán, cần bao nhiêu có bấy nhiêu nên tôi không bòn rút. Dạy Củ Chi, sáng đi chiều về, có học sinh thương để mấy trái sầu riêng đầu mùa trong giỏ xe gắn máy, cám ơn, dọc đường, tôi ghé cho lại học sinh nghèo khác, không phải tôi tốt, vì tôi chịu không nổi mùi thúi sầu riêng. Ngoài ra còn hai khóa Sư Phạm cấp tốc đặc biệt do Mỹ tài trợ. Tú tài 2. thi vào học 1 năm, ra dạy 1 năm, trở lại học 3 tháng hè, lại đi dạy thêm 1 năm, rồi trở về học 3 tháng hè là xong, ngạch Giáo sư đệ nhứt cấp. Coi điểm thi. Mỗi kỳ thi, có đám cò mồi chạy lo tiền cho thí sinh thi đậu. Hắn nhận càng nhiều càng tốt, tìm giám khảo quen hỏi điểm nếu gặp đúng trung tâm. Sau khi chấm, ráp phách, cộng điểm xong, vài ngày sau mới niêm yết kết quả. Thí sinh trung bình khó đoán kết quả, cò mồi biết trước điểm chừng vài ngày, báo cho phụ huynh biết trước, lấy tiền, phụ huynh tuởng con mình nhờ cò mà đậu, còn thí sinh rớt thì có đủ lý do để nói. Mỗi năm vào 2 kỳ thi kiếm cũng khá, trong túi cò luôn luôn có danh sách thí sinh, gặp bàn bè giám khảo thì chìa ra nhờ coi điểm, nghề nào cũng có cách làm tiền. Lưu Nhơn Nghĩa. .....

Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2021

4 ông bạn thân, qua Mỹ mổi người ở 1 tiểu bang, chỉ liên lạc nhau bằng điện thoại, đến 1 ngày, nhận thấy tuổi đã già, 4 ông quyết định tổ chức 1 buổi reunion, hẹn gặp nhau cho thoả lòng mong nhớ Gặp lại sau mấy mươi năm, 4 ông chuyện trò như pháo nổ, đang vui thì có 1 ông đau bụng, xin phép đi vệ sinh.... 3 ông còn lại vẫn tiếp tục hàn huyên, hỏi thăm nhau về gia đình, con cái, ông thứ nhất khoe - Mấy anh nhớ thằng con trai tui không, hồi mới qua Mỹ nó khổ lắm, đi làm lao công quét dọn cho 1 dealer bán xe Mercedes, vậy mà nó vừa làm vừa học, từ từ nó lên trưởng phòng, rồi nó lên làm giám đốc 1 chi nhánh. Rổi từ từ nó làm chủ dealer bán xe, bây giờ thì nó đã làm chủ mấy chục dealer Mercedes trên toàn nước Mỹ, hôm tuần rồi, sinh nhật 1 đứa bạn thân mà nó dám tặng cho 1 chiếc Mercedes top of the line cả trăm ngàn đô.. Mấy ông bạn trầm trồ.. nâng ly chúc mừng Ông thứ 2 khoe - Thằng con tui cũng vậy, mới qua Mỹ nó làm lao công, lau dọn cho 1 hảng tàu, mà vừa làm vừa học, từ từ nó lên làm quản lý, rồi lên làm chủ luôn, giờ nó có cả chục cơ sở đóng tàu, hôm vừa rồi, sinh nhật đứa bạn nó mà nó dám tặng nguyên 1 chiếc du thuyền giá gần 500 ngàn đô... Các ông lại nâng ly chúc mừng. Ông thứ ba cũng khoe - Thằng con tui cũng đâu có thua gì, ngày mới qua Mỹ nó cũng theo bạn bè đi làm phụ hồ, kiếm tiền ăn học, vậy mà từ từ nó lên chủ thầu, rồi nhảy qua làm địa ốc, mua bán nhà, giờ nó có nhà đất khắp nơi, giàu lắm, hôm vừa rồi sinh nhật đứa bạn nó, nó dám tặng nguyên 1 căn biệt thự ở bờ biển, trị giá cả triệu đô.. 3 ông lại cụng ly chúc mừng, thì vừa lúc đó ông thứ tư đi vệ sinh xong, trở lại bàn, khg biết chuyện gì..mới hỏi. - Vụ gì mà mấy anh vui vậy..? - À, đang chúc mừng sự thành công của mấy đứa nhỏ... còn thằng con trai của a giờ ra sao ? - ..... thằng con trai tui nó ...gay. 3 ông kia tỏ ra ái ngại.. - Ồ.. rồi giờ nó làm gì sống ? - Ban ngày nó ăn ngủ, đi chơi thôi, nhưng ban đêm thì nó đi nhảy sexy trong 1 cái strip club của mấy người gay, đồng tính.. - Ồ..!!! Tội nghiệp cháu quá, tụi tui xin chia buồn với anh và cháu..!!! - Có gì đâu mà buồn, nó sướng lắm, vừa rồi chỉ trong ngày sinh nhật của nó mà nó nhận được 1 cái biệt thự cạnh bờ biển, 1 chiếc du thuyền và 1 chiếc Mercedes top of the line của 3 thằng boyfriends nó tặng...

Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2021

Ông Năm Chuột Phan Khôi Hồi tôi còn 14 tuổi, 15 tuổi, thì đã nghe người làng nói nhiều về cái tên Năm Chuột. Về gốc gác của hắn, chỉ thấy nói là người làng Kỳ Lam, cái làng ở phía Bắc làng tôi, cách một con sông, về sau có cái ga xe hỏa gọi là ga Kỳ Lam, còn mọi sự khác không biết rõ. Hình như hắn cũng không có nhà cửa, cha mẹ, vợ con gì ở làng. Hắn làm thợ bạc, quanh năm đi làm nghề ở các nơi, nhất là các nơi đô hộ, như Huế, Ðà Nẵng, Hội An. Họ nói Năm Chuột là thợ bạc khéo nhất đời, ở Huế có nhiều thợ bạc danh tiếng cũng phải chịu thua. Nhưng lại nói hắn tổ làm đồ vàng giả, mỗi khi được gọi đến nhà làm đồ nữ trang cho người ta, nhà chủ dù ngồi cạnh một bên, hắn cũng cứ tráo bạc, tráo đồng vào, lấy vàng ra, không làm sao biết được. Bởi vậy cả vùng quê chúng tôi, những nhà giàu có, vốn biết Năm Chuột là thợ khéo, nhưng không ai dám thuê hắn làm việc gì về cái nghề của hắn cả. Nhiều người còn nói Năm Chuột đúc súng, đúc bạc giả được. Mỗi khi nói điều ấy, họ làm ra vẻ bí mật, hình như họ có ý ngờ cho Năm Chuột định làm một việc gì lớn, “làm giặc” chẳng hạn. Nhưng không biết thế nào, người ta lại cho Năm Chuột là kẻ nói láo nói phét, vào cái hạng “mười voi không được bát nước sáo” tức là mắng người ấy đã lại nói láo nói phét rồi,có khi chỉ dùng độc một chữ: Chuột quá tức là láo quá. Lúc bấy giờ tôi đang đi học ở những nơi cách xa làng, mỗi khi về làng, lại thỉnh thoảng nghe người ta nói chuyện về Năm Chuột như thế, như thế, tôi cũng chỉ nghe làm tai mà thôi, không để ý mấy. Mà hẳn thế, cậu cả con quan phủ, học giỏi có tiếng, đang lo sôi kinh nấu sử để khoa tới đây đỗ thủ-khoa, không thì cũng cử-nhân năm tên trở lên, việc gì mà phải để ý đến chuyện một anh thợ bạc. Năm hai mươi tuổi, tôi thi đỗ tú tài--- quái lạ, sao lại đỗ tú tài? --- về nhà, cách mấy hôm thì tôi đi về làng Xuân Ðài thăm bà ngoại tôi và cậu tôi. Ở ăn một bữa cơm trưa, đến xế chiều, tôi cáo về thì vừa có một người đến. Người trạc dưới bốn mươi tuổi, mặt trẹt, nước da xanh xám, mắt sáng, miệng rộng, hai môi trề ra, hàm và cằm như nguyên không có râu, không phải cạo, người thấp song cũng không thấp lắm, đầu trọc, quấn cái khăn vải đen, áo cộc cúc giữa, quấn đến đầu gối, chân mang dép da sống. Người ấy lúc vào đến cửa, hai tay cắp cái nón lá ngang ngực cúi chào cậu tôi, khi bỏ cái nón lá ra, mới thấy trong tay còn cầm một cái nữa mà sau này tôi mới biết đó là cái dọc tẩu. Nó là cái ống tròn mà dài, thấy thoáng như có khảm xà cừ và bịt bạc, bịt vàng gì đó. Cậu tôi như chào như không phải chào: - Anh Năm phải không? - Dạ, lâu lắm, có thể quan lớn quên tôi. Tôi nguyên đã cáo về rồi, cho nên dù có gặp một người khách mới vào hơi lạ như thế cũng cứ việc ra về. Không ngờ khi tôi ra khỏi cổng, lên đường về mới một chặng, nghe có người chạy theo đằng sau gọi tôi đứng lại, thì ra là người thấy lúc nãy. Anh ta tự giới thiệu: - Tôi là Năm Chuột đây. Rồi đột ngột hỏi tôi: - Nghe nói cậu đậu Tú Tài mà cậu khóc, có phải không? Giả sử cậu được đậu thủ-khoa thì cậu làm nên cái trò trống gì? Một gáo nước lạnh xối vào xương sống! Tôi bẽn lẽn ấp úng, cười hì hì không trả lời được. Bởi vì cái lẽ anh ta nói đó tôi cũng có nghĩ tới, nhưng không đi thi thì thôi, đã đi thi thì lại muốn đậu to. Thế rồi Năm Chuột đi cùng đường với tôi, vừa đi vừa nói chuyện. Anh ta có đưa cái dọc tẩu lên, nói với tôi: - Ông cậu của cậu thật là keo quá, cái dọc-tẩu thế này mà cầm trả có 5 đồng bạc. - Hoặc giả cậu tôi không có nhiều tiền chăng? Tôi nói cho có nói, chứ không có ý gì cả. Nhưng anh ta cãi phăng: - Quan lớn hồi xưa (chỉ ông ngoại tôi) làm đến Tổng đốc Hà Nội vừa chi, mà không có tiền lợp nổi cái nhà của ông bà để lại đã tróc ngói ; còn ông phủ (chỉ cậu tôi) mới làm Tri-phủ có 3 năm về “chung dưỡng”, mua được những mươi mẫu ruộng, tôi biết là hạng đất tốt nhất, thế sao nói là không có nhiều tiền? Tôi thấy cái điều anh ta nói đó hình như đúng, tôi làm thinh. Bỗng dưng anh ta cất tiếng cười một cách rất xỏ lá, rồi nói tiếp: - Ai có đời, cha chết vì đánh Tây mà con trở đi làm quan với Tây! Nghe câu này tôi cảm động quá. Tôi không dám chống lại ý anh ta, chỉ nói như vớt vát một ít: - Thấy bà ngoại tôi kể chuyện, lúc ông ngoại tôi mất rồi thì cảnh nhà sa sút quá đỗi, nếu cậu tôi không làm như thế thì đến lụn bại mất. Anh ta bĩu môi, cái môi đã trề rồi, còn bĩu nữa, rất khó coi: - Ra chỉ có làm quan mới cứu vãn được nghiệp nhà. Thế thì bao nhiêu người không làm quan, họ đều đi ăn mày hết. Tôi lại làm thinh. Ngừng một lúc, anh ta nói tiếp: - Hèn chi mà quan lớn chết ở Hà Nội năm Ngọ, năm Dậu thất thủ kinh đô, Nghĩa-hội nổi lên đánh Tây, năm Hợi, Tây kéo lên đóng đồn ở chùa Phi Phú, thì ông cậu của cậu đã làm bang tá trong cái đồn ấy. Ðể làm gì? Cậu có biết không? Ðể đàn áp Nghĩa-hội. Những chuyện ấy, thầy mẹ tôi có kể cho tôi nghe hồi còn nhỏ, tôi biết cả, nhưng tảng lờ nói: - Tháng tám năm Hợi, mẹ tôi mới đẻ tôi ra, tôi làm gì biết được những chuyện ấy? Anh ta lại cười, nhưng không xỏ lá, nhìn vào mặt tôi: - Thấy người ta nói cậu thông minh, nói chuyện với cậu, tôi cũng thấy cậu thông minh thật. Thình lình anh ta nhảy mũi dặp hai ba cái, lấy khăn lau nước mũi cả nước mắt nữa, rồi nói thêm: - Như tôi, (anh ta lấy tay phải ấn vào ngực) ghiền thuốc phiện cho đáng, chứ ông cậu của cậu mà cũng hút thì hết thảy những người nghiện chúng tôi đều phải lấy làm lạ. - Sao vậy? - Quan lớn hồi xưa có cùng mấy ông em lập một bản “gia ước”, trong đó có một điều cấm con cháu hút thuốc phiện, nếu phạm thì trừng trị bằng những cách nào đó. Thế mà dám phạm. Ðủ biết con người của ông cậu của cậu là vậy đó: cái gì cũng làm nghịch lại với cha. Cái “gia ước” mà anh ta nói đây, tôi không hề biết, vì không hề nghe ai nói tới. Nhưng tôi nghĩ, nếu đúng như thế, thì anh ta nói cũng có lý. Tôi lại làm thinh. Ðây đã đến chỗ con đường rẽ vào nhà tôi, tôi đứng lại, nói mấy lời từ biệt.Năm Chuột nắm lấy tay tôi và nói: - Tôi nói nãy giờ có làm mếch lòng cậu không? Ở đời có thiếu gì chuyện nói, hà tất tôi gặp cậu lần đầu phải nói để làm mếch lòng cậu, nhưng tình cờ gặp câu chuyện đáng nói thì cứ nói. Rồi anh ta tỏ ý mong gặp tôi lần khác. Tôi vừa đi về nhà vừa nghĩ, “À, ra Năm Chuột là con người như thế đấy”. Là một anh thợ bạc, sao lại nói được những điều như thế, tôi lấy làm lạ. Tối hôm ấy, tôi đem cả câu chuyện Năm Chuột nói với tôi kể lại cho thầy tôi nghe. Thầy tôi bảo: - Cái thằng láo đến thế là cùng! - Nhưng những điều hắn nói, con thấy như cũng có cái đúng. Tôi rón rén thưa lại. - Ðúng kia à? Mặc dầu đúng chăng nữa, cái hạng thằng Năm Chuột mà lại được nói thế à? Thấy thầy tôi nói hơi xẵng , tôi làm thinh. Một chặp tôi mới dịu giọng hỏi: - Cái “gia ước” ông ngoại lập ra mà Năm Chuột nói đó, thầy có biết không? - Tao không biết. Thấy nói sự cấm hút ấy ở nhà Ðông bàn (nhà quan thượng Phạm Phú Thứ) thì có, còn nhà Xuân Tài, tao không nghe. Ðến lúc tắt đèn, đi ngủ rồi, thầy tôi còn nói một mình: - Cái thằng láo quá! Ðó về sau hơn 10 năm, tôi không gặp lại Năm Chuột lần nào. Chừng vào khoảng 1920, một lần tôi ở Hà Nội về nhà, thấy người ta nói Năm Chuột bây giờ lập gia đình ở ngụ tại làng tôi, tôi bỗng có cảm giác như là một vật gì mình đã bỏ quên đi mà bây giờ thấy lại. Làng tôi có một chỗ gọi là Cồn Mũi Gươm, có một vạt đất gọi là đất Chó ỉa, theo lời thì Năm Chuột đã xin làm cái túp tranh trên vạt đất ấy, và cưới vợ là con gái quá lứa của một nhà có môn bài bán rượu và thuốc phiện cũng ở làng tôi. Hắn vẫn làm thợ bạc. Một hôm tôi đến thăm, thấy trong nhà chỉ có một căn ván nhỏ, trên đặt cái bàn đèn, một cái buồng che phên tre, ngoài ra là cái lò bễ bạc để ngay chỗ cửa ra vào. Bấy giờ gần đến Tết, trời hơi lạnh, hắn ở trần, ngồi cạnh cái lò bễ đang hơ cả người trên lửa. Hắn xin lỗi tôi và nói: - Người ta tắm bằng nước, nhưng tôi quanh năm tắm bằng lửa. Hơ thế này cho đổ mồ hôi ra, kỳ sạch ghét, thì cũng chẳng khác tắm bằng nước. Hắn mời tôi ngồi trên ván, tôi không ngồi, ngồi trên cái đòn kê đặt ở đất gần lò bễ, chỗ sắm cho bạn hàng ngồi xem hắn làm việc. Anh ta không tắm nữa, mặc áo vào, cho than thêm vào lò bễ, bắt ấm nước lên, rồi gọi vợ súc cái bình tích trà hãm đi, cho trà khác vào, pha nước mời tôi uống và sưởi lửa, cũng nói chuyện. Lần này anh ta gọi tôi bằng ông, nói rằng: - Mười năm về trước tôi mong lại gặp ông mà không được gặp, lần này gặp, tôi không có chuyện nói. - Ông mà thiếu gì chuyện, như chuyện nói với tôi năm nọ khi đi đường từ Xuân Ðài đến Bảo An. Anh ta đưa tay lên khoát khoát, nói thật nhanh: - Thôi thôi, đã lâu nay tôi không còn nói những chuyện như thế nữa. Nói không có người nghe mà còn có hại. Giá tôi còn cứ nói cái lối đó thì không thể nào lấy vợ và lập gia cư ở làng ông được. Tôi nói: - Ðã thế thì đến phiên tôi. Trước kia ông không sợ mếch lòng tôi, thì bây giờ tôi cũng không sợ mếch lòng ông mà hỏi ông một vài điều. Anh ta cười một cách thẳng thắn. - Ðược lắm, những nhà giàu làng tôi họ đều nói ông hay ăn cắp vàng nên họ không dám thuê ông làm cái gì hết, bây giờ ông vác lò bễ đến đây làm gì? Anh ta lại cười, nói dằn từng tiếng: - Sở dĩ tôi ở đây là vì có thể chữa đồng hồ, xe đạp, bút máy, khóa tây, nội những việc đó đủ cho tôi làm hàng ngày rồi, còn sự làm đồ vàng bạc thì chỉ thỉnh thoảng mới có. - Nhưng tôi muốn biết ông quả có ăn cắp vàng không? Và ăn cắp như thế nào? Anh ta lại cười một cách xỏ lá: - Thứ ăn cắp mà kể gì? Có những kẻ ăn cướp thì không ai nói đến. Tôi có ăn cắp vàng thật đấy, nhưng cũng tùy chỗ tùy người, ở làng Bảo An đây thì tôi không thèm. Rồi anh ta thuật lại chuyện ăn cắp vàng cho tôi nghe: - Năm Thành-Thái thập nhị, ông Nguyễn Hữu Thẳng làm Tổng đốc tỉnh ta, cô hầu ông ấy gọi là cô Hóa Mộc, tuy cô hầu mà oai quyền như bà lớn. Một hôm, tôi được trát đòi đến, lính bẩm báo rồi dắt vào nhà trong. Cô ta muốn tôi ở lại đây làm cho cô một đôi vòng chạm y như đôi cô có sẵn, và hỏi tôi có thể làm được không. Tôi nói “được”, và xin cho xem đôi vòng chạm sẵn có của cô. Cô ta mở tủ lấy ra, toan trao cho tôi. Tôi có 1 vuông lụa trắng tinh khiết bỏ sẵn trong túi, bèn lấy lót trên bàn tay, rồi mới nhận lấy đôi vòng tự tay cô đặt lên vuông lụa. Tôi đem ra chỗ sáng, cô đi theo. Tôi nhắc nhắc xem thử đôi vòng nặng bao nhiêu, và cầm tuổi vàng cho thật đúng, ngắm xem những nét chạm cho thật đâu ra đó, còn vặn chỗ cái cổ ra coi thử có chữ hay dấu hiệu gì không. Xong rồi, tôi trả đôi vòng lại và nói: “Bẫm bà lớn, đôi vòng này khéo lắm, chỗ cổ vặn ra vặn vô của nó có khắc cái chữ, bà lớn có để ý không?”. Cô ta nói: “Tôi biết, nó là chữ “ngọc”.Tôi nói: “Con có thể làm đúng y như thế, nhưng hôm nay con có việc riêng, không ở lại được, mười ngày nữa con xin đến làm hầu bà lớn, không dám sai hẹn”. Cô ta đồng ý. Nói đến đây, anh ta nổi ngáp một ngoi đôi ba cái, rồi xin lỗi tôi cho lên ván đốt đèn hút mấy điếu, và mời tôi nằm đối diện nghe nói tiếp. - Tôi về nhà, cầy cục làm mất sáu bảy ngày mới xong một đôi vòng cốt giả mạ vàng. Ðáng lẽ làm bằng đồng thì được lợi nhiều hơn nhưng vì có chạm phải làm bằng bạc. Thành khi rồi, xem tuổi vàng nét chạm cho đến cái chữ ở trong đều y hệt như đôi vòng của cô Hóa Mộc, đem mà đánh tráo, có thánh cũng không biết... Tôi ngắt: - Ðành rằng ông làm 1 cái rất giống, còn như đồng cân của đôi vòng, tức là sức nặng của nó, ông biết là bao nhiêu mà làm cho đúng được? - Ấy thế mới là tài. Anh ta cười híp mắt mà không ra tiếng. Chính ăn người là ở chỗ đó. Bất kỳ thử kim khí gì, tôi nhắc nhắc trên tay khắc đồng cân của nó đúng không sai. Chẳng tin, ông tháo cái dây chuyền đồng hồ đưa đây xem. Tôi tháo ngay cái dây chuyền để trước mặt anh ta. Kéo xong điếu thuốc anh ta đằng hắng một cái, ngồi dậy, cầm dây chuyền trên nhắc nhắc một cái rồi đứng dậy đi lấy cái cân tiểu-ly đưa cho tôi, nói quả quyết: - Ông biết mặt cân chứ? Cân xem. Cái dây chuyền này nếu nó là vàng thì nó nặng hơn, nhưng nó là đồng mạ vàng cho nên nó chỉ có ba chỉ tám. Tôi cân, quả thật, ba chỉ tám hơi yếu một chút, song đem vao chỗ ba chỉ thì hơi vát. Tôi kêu lên: - Thế thì tài thật. Xin chịu. Anh ta lại nói: - Còn một chỗ bí quyết nữa. Ông biết, vàng nặng hơn các thứ kim khí khác, nghĩa là vàng, bạc, đồng, chì cùng một thể tích thì lượng của vàng phải nhiều hơn. Vậy thì mình muốn cho đồng cân của đôi vòng giả bằng đôi vòng thật, mà cái vóc của nó cũng chỉ bằng đôi vòng thật, không to hơn, thế mới là khó. Nhưng cái đó co thực hành mới cắt nghĩa được, nói bằng miệng sợ ông cũng không hiểu. Nghỉ một lát anh ta kể tiếp đến cuộc đánh tráo: - Ðúng 10 ngày tôi lại đến. Hai bên thỏa thuận với nhau về điều kiện làm việc rồi, cô ta mở tủ lấy đôi vòng và vàng diệp ra đặt trên sạp, rồi gọi tôi đến đứng bên cạnh xem cô cân. Cân đôi vòng nặng một lạng hai -- tôi chắc dạ lắm, vì đôi vòng giả của tôi cũng đúng một lạng hai -- cho nhích một chút, định giao cả cho tôi. Tôi chưạ nhận, xin cho xem đôi vòng đã. Cô ta đứng dậy cầm bó vàng diệp cả chỗ một lạng hai cất vào tủ. Trong lúc đó tôi lấy đôi vòng giả ra đặt trên bàn tay trái, đậy vuông lụa trắng lên trên. Khi cô ta quay ra đưa đôi vòng cho tôi, tôi chìa bàn tay có vuông lụa trắng ra nhận lấy cũng như lần trước. Tôi đi ra chỗ sáng ngồi xuống làm bộ xem lại đôi vòng, cô ta cũng đi theo. Xem xong tôi đứng lên. Cô ta sấp lưng đi về chỗ sập. Tôi đi sau, lật cả vòng và vuông lụa từ bàn tay trái qua bàn tay phải, thành ra đôi vòng giả nằm trên, cứ thế mà trả lại cho cô ta, và tôi gấp nhanh vuông lụa có đôi vòng thật ở trong mà bỏ vào túi. Cô ta hỏi: “Chứ chú thợ không giữ lấy để làm mẫu à?”. Tôi nói:”Bẫm bà lớn, con xem hai lần như thế đủ rồi, xin bảo đảm làm thật đúng”. Cô ta khen: “Hèn chi mà nổi tiếng là thợ khéo. Tôi nhờ ông Phủ Ðiện viết trát đòi chú là vì có bà Phủ mách miệng”. Bấy giờ chừng mười giờ sáng, tôi xin đi ra mua thuốc phiện rồi trở lại nhận vàng diệp bắt đầu làm. Ra đến chợ Vĩnh Ðiện, tôi đem đôi vòng chạm vàng mười chính hiệu của “bà lớn” gửi cho một người anh em “đồng đạo”. Tôi không quên câu tục ngữ: “Có gian phải có ngoan”. - Ông ăn cắp chỉ có thế, hay là lúc trở lại làm còn ăn cắp nữa? Tôi hỏi. - Không, tôi dại gì mà ăn cắp nữa. Trong những ngày làm, cô ta ngồi giữ một bên, không phải vì thế mà tôi không ăn cắp được, có điều tôi đã định bụng không ăn cắp. Khi làm xong, tôi hỏi muốn khắc chữ gì. Cô ta ngẫm nghĩ rồi bảo: “ Tôi là người Hóa Mộc, khắc chữ “mộc”cho tôi. Tôi khôn ở chỗ đó. Bởi vì hai đôi vòng giống nhau như hệt, có khắc chữ khác nhau đễ làm dấu thì mai sau đôi giả có xì ra, hắn mới không có thể ngờ được là đôi do tay tôi làm. Cho đến bây giờ tôi cũng còn ân hận là, như thế, sẽ làm cho ông bạn đồng nghiệp nào của tôi đã làm cho hắn đôi vòng thật đó hóa ra là người bất lương thiện, nhưng ông tính, đã giết người ai còn gớm chảy máu. - Ông làm cái việc như thế có nhiều lần không? - Kể ra cũng không ít. Nhưng tôi đều ăn cắp ở bọn ăn cướp như Tổng Ðốc, Bố Chánh, án Sát, Phủ, Huyện, chính cái bà Phủ nói lúc nãy đã mất với tôi mấy lạng vàng mà không biết, đi “mách miệng” cho người khác. Những việc như thế tôi cũng chẳng dấu, cứ hay đem nói với người ta cũng như nói với ông đây, cho nên mang tiếng, chứ thuở nay đã có ai bắt được tôi ăn cắp đâu. Hỏi đến sự đúc súng, làm bạc giả, anh ta bảo: - Ta có nấu sắt được đâu mà đúc súng? Nhưng chữa súng thì có. Hồi tôi ở Ðà Nẵng, các thứ súng liệt máy của Tây thường đem thuê tôi sửa. Bạc giả thì tôi có làm, nhưng tính ra không có lợi gì mấy, về sau tôi không làm nữa. Năm Chuột còn nói cho tôi nghe về tính chất của các thứ loài kim và phép hợp kim, như đồng và kẽm, mỗi thứ bao nhiêu, hợp nhau thành ra thứ gì, đồng và thiếc bao nhiêu, hợp nhau thì thành ra thứ gì, nghe ra thông thạo như người có học chuyên môn. Tôi lấy làm lạ bèn hỏi: - Ông có học với thầy nào mà biết được những điều ấy là những điều mà các thợ bạc khác hầu như không biết? Anh ta vùng ngồi dậy, cười, ra điều đắc ý, vỗ vào đùi tôi: - Xưa nay mới có một người hỏi tôi câu ấy, là ông! Tôi chẳng học với thầy nào hết, tôi chỉ đọc có 1 cuốn sách là cuốn Kim Thạch chí-biệt. Tôi sửng sốt, nghĩ bụng: té ra anh này còn biết chữ nữa kìa. Cái tên sách ấy tôi chưa hề nghe, cũng không dám ngờ là anh ta bịa đặt. Một hôm khác tôi hỏi thầy tôi có biết cuốn Kim-thạch chí biệt không, thầy tôi cũng chịu không biết, và hỏi tôi nghe ở đâu, tôi kiếm đường nói trớ, chứ không dám nói nghe ở Năm Chuột. Cho mãi đến gần nay, đọc Lỗ Tấn toàn tập, tôi mới thấy trong đó có nhắc đến tên cuốn sách ấy. Tôi nghĩ mà lấy làm thẹn, sao mình đã không biết mà lúc bấy giờ không hỏi ngay anh ta, chỉ vì nghĩ mình là người học thức viết báo viết biếc, mà tỏ cái dốt trước mặt một anh thợ bạc thì ê quá. Ðó về sau mấy năm, mỗi năm tôi ở Hà Nội hoặc Saigon về thăm nhà, đều có đến với anh ta. Anh ta còn in trong đầu tôi mấy câu chuyện lý thú và bất ngờ nữa. Năm Chuột từng nói với tôi rằng từ rày anh ta không nói những chuyện như đã phê bình cậu tôi một cách không nể nang, nhưng rồi lại chứng nào tật ấy, vẫn không cải nết. Một lần, phê bình nhân vật làng tôi, anh ta chê ông Tú nọ dốt, ông Bá kia keo kiệt, cuối cùng anh ta nói: “tôi chỉ phục có hai người, một là ông Biện Chín, một là ông Tám Thứ”. Ông Tám Thứ, người Minh Hương, ở ngụ làng tôi, nghèo chuyên nghề làm thuốc, ít hay giao du với ai, tôi không biết ông ta cho lắm. Còn ông Biện Chín, tên thật là Phan Ðịnh, chú ruột tôi, cha của Phan Thanh, Phan Bôi. Chú tôi là dân tráng, nghèo, cố gắng lắm mới cho con đi học được, nhưng đúng là người “cần kiệm liêm chính” lại khẳng khái nữa, chính tôi, tôi cũng phục chú tôi mà sợ thầy tôi. Tôi không tham gia ý kiến gì, chứ ngấm ngầm chịu anh ta là biết người, phê bình đúng. Nhưng, trước mặt tôi mà nói như thế, tôi ngờ anh ta có ngụ một thâm ý, là anh ta không phục thầy tôi. Thầy tôi đã đỗ đại khoa, làm quan, bỏ quan về ở làng, cầm cân nẩy mực cho cả làng, cả tổng, không có mang tai mang tiếng gì, nếu anh ta không lấy làm đáng phục, chắc anh ta thấy về khía cạnh nào đó. Từ đó tôi đâm ra áy náy, hoặc giả cha mình cũng có khuyết điểm gì như cậu mình, làm cho người ngoài phi nghị mà mình không biết chăng. Tôi có đem hỏi chú tôi và thuật lại lời Năm Chuột khen phục chú, thì chú tôi trách tôi sao lại đi nghe chuyện của Năm Chuột. Thì ra chú tôi cũng có thành kiến đối với Năm Chuột như thầy tôi, như những người làng. Lần khác, bỗng dưng anh ta hỏi tôi: - Quan lớn nhà ta (chỉ thầy tôi) sao lại không làm quan nữa? Ông có nhớ lúc ngài bỏ quan mà về là bao nhiêu tuổi không? Tôi lấy làm lạ sao hắn lại hỏi mình điều ấy. Song cũng cứ theo mình biết mà trả lời: - Thầy tôi tuổi Tuất, cái năm cáo bệnh mà về là năm Kỷ Hợi, mới có ba mươi tám tuổi. Sở dĩ không làm quan nữa, có lẽ là tại không chịu làm với Tây. Cho đến lúc tôi ngoài 20 tuổi, thầy tôi vẫn coi tôi như trẻ con, những việc như thế chưa hề đem nói với tôi. Có điều một đôi khi tôi nghe thoảng qua dư luận bên ngoài, nhất là lúc ở Hải Phòng gặp Lê Bá Cử, ông ấy có kể cho tôi nghe khi ông làm phán-sự toà án Nha Trang, thầy tôi làm tri phủ, có lần cãi nhau kịch liệt với viên công sứ, chính ông đứng làm thông ngôn, thì tóm tắt mà trả lời như vậy. Nhưng Năm Chuột hỏi vặn tôi một câu rất oái ăm: - Ở làng này còn có 2 ông nữa đều làm đến tri huyện, đều bỏ quan mà về trước tuổi hưu trí, vậy thì ông cũng cho rằng 2 ông ấy cũng không chịu làm quan với Tây hay sao? “Thằng cha khó chịu thật” tôi nghĩ bụng. Không biết đối đáp thế nào với hắn, tôi phải nói một câu mà tự mình cũng thấy là non nớt quá: - Việc hai ông ấy thì tôi không biết. Anh ta vẫn cười cái lối xỏ lá rất khả ố. Ngớt cơn cười mới bình tĩnh nói: - Tôi cũng có nghe và biết về chánh tích và nhân phẩm của quan lớn nhà ta, nhưng tôi lại có một sở kiến khác, nói ra, ông đừng tưởng tôi cố ý làm đôi vòng thật nhanh thành ra đôi vòng giả thì tôi mới nói. - Thì ông cứ nói đi. - Làng Bảo An, người ta nói, không có đất phát quan lớn, mà kinh nghiệm xưa nay rành rành như thế. Từ trước bao nhiêu ông làm đến tứ phẩm trở lên đều bị cách tuột hết. Cho nên Ðồng Khánh, Thành Thái đến giờ, ông nào cũng làm đến phủ huyện rồi kiếm cách từ chức mà về. Nếu nói không chịu làm quan với Tây thì không làm từ đầu, chứ không có lẽ lúc mới ra làm, không biết rằng mình sẽ làm với Tây. Hai ông huyện kia cầy cục mãi đến ngoài bốn năm mươi tuổi mới về, còn quan lớn nhà ta về sớm là vì mới 38 tuổi đã làm Tri-phủ. Tôi làm như không để ý gật gật nhìn anh ta, kỳ thực tôi cho là cái sở kiến của anh ta đó, không biết chừng, là độc đáo. Làng tôi, tây giáp làng Ðông-Mỹ, đông giáp làng Xuân-Ðài, hai làng này đều có Tổng Ðốc, mà làng tôi, thi đỗ thì đông, đại khoa cũng có, nhưng không có quan to. Thuở Tự Ðức ông Nguyễn Duy Tự, làm đến phủ đoãn Thừa Thiên, ông nội tôi làm đến án-sát Khánh Hòa, cũng đều bị cách. Tôi không tin phong thủy, nhưng đó là sự thực. Hoặc giả các ông quan làng tôi, trong đó có thầy tôi, thấy thế mà sợ, làm đến phủ huyện lo rút lui cũng nên. Huống chi cái luận chứng của Năm Chuột rõ ràng mà đanh thép lắm, tôi bấy lâu trau dồi cái đức tính ngay thực của người viết báo, tôi không thể cãi chày cãi cối được. Tôi thấy chắc chắn lắm, vì tôi biết chịu chuyện cho nên anh ta thích nói chuyện với tôi, còn anh ta, hay nói cái lối móc ruột móc gan người ta như thế,cho nên họ mắng anh ta là nói láo nói phét. Có một sự rất lạ. Một lần tôi đến chơi, vẫn ngồi trên đòn kê xem anh ta làm việc, liếc thấy trong cái thùng đựng đồ nghề có quyển sách, tôi thò tay lấy xem, thì là một cuốn Thương-Sơn thi tập không có bìa, đã xé mất nhiều trang. Tôi hỏi: - Ông cũng có sách này à? Nó là một bộ đến 10 cuốn, sao ở đây chỉ còn 1 cuốn? - Tôi có mà tôi xé để quấn thuốc lá hết, chỉ còn 1 cuốn, bởi vì in bằng giấy quyến, quấn thuốc tốt lắm. - Ông có xem qua chứ? - Thơ của ông Hoàng mình xem thế nào được? Tôi chỉ xem được có mỗi một bài Mại Trúc Diêu. Tôi phát lạnh người. Tôi có đọc thơ Thương-Sơn rồi, tôi cũng không thích, nhưng cái bài Mại trúc diêu là bài thế nào, tôi có biết đâu? Chỉ vì dấu dốt, tôi lại cứ làm thinh, không hỏi anh ta. Về nhà, tối hôm ấy, tôi lật bộ thơ Thương-Sơn ra tìm, tìm được bài Mại trúc diêu. Về sau, tôi dịch ra đăng báo Phụ Nữ Tân Văn, sau nữa, đem in trong Chương Dân thi-thoại. Lục ra đây để bạn đọc thưởng thức cái mức thưởng thức văn học của anh thợ bạc: Bài hát bán tre Ngày đốn hai cây trúc Bán đi để dằn bụng Trong cửa tre đầy kho Ngoài cửa tiền chẳng cho Không nói thì cũng khổ Nói thì roi dài sẽ quật chú Rày về sau đừng đốn tre nữa Ðói nằm trong tre chết cũng đủ! Từ khi biết Năm Chuột có biết chữ Hán nhiều, xem sách xem thơ được rồi, tôi có lúc đem văn học nói với anh ta, anh ta chỉ nghe và hỏi chứ không tỏ ý kiến. Tôi có ý trách. Anh ta giải thích thế này: “Người ta, cái gì biết ít thì chỉ nên nghe chứ không nên nói, tôi nói chuyện văn chương chữ nghĩa với ông, cũng như ông không dạy nghề làm thợ bạc cho tôi”. Anh ta làm thợ bạc, nhưng cũng kiêm luôn thợ rèn nữa mà là thợ rèn rất khéo. Những dụng cụ của anh ta như cái kìm, cái búa, cái kéo, anh ta đều đi đến lò bễ rèn, ngồi mà tự đánh lấy. Cái đó thì ở làng tôi có nhiều người biết, cái kìm của anh ta đánh, ai cũng chịu là không kém của Tây. Năm 1944, tôi ở Hà Nội, về nhà được mấy hôm thì thầy tôi mất. Làm đám xong, tôi ở luôn trong nhà ba bốn tháng không ra khỏi cổng. Buồn quá, một hôm tôi đi tìm anh ta. Ðến nơi, cái túp tranh không có nữa. Hỏi thì người ta nói Năm Chuột dọn đi đâu đã lâu rồi. Từ đó tôi mất Năm Chuột của tôi. Một lần, trước mặt ông Tú già, anh Giáp trong làng gọi Năm Chuột bằng ông, ông Tú già đập bàn quở: “Mầy gọi thằng Năm Chuột bằng ông, thì gọi tao bằng gì?” Tôi nghe mà tức mình, cho nên bài này, tôi nêu đầu đề là Ông Năm Chuột”. Phan Khôi Báo Văn - Hà Nội số 36 ra ngày 10/01/1958 ____

Thứ Tư, 6 tháng 10, 2021

Nhà Thơ Hữu Loan KỂ CHUYỆN BỐ MẸ VỢ BỊ HÀNH QUYẾT Lời tự thuật của Thi sĩ HỮU LOAN, tác giả "MÀU TÍM HOA SIM" Hữu Loan Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan. Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt ….. Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ ... Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:-Ngọt quá.Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa. Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ … Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”. Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn … Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.” Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi! Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi … Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm! Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông. Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì. Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán. Màu tím hoa sim (Nguyên văn của tác giả) Nàng có ba người anh đi bộ đội Những em nàng Có em chưa biết nói Khi tóc nàng xanh xanh Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình Yêu nàng như tình yêu em gái Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới Tôi mặc đồ quân nhân đôi giày đinh bết bùn đất hành quân Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo Tôi ở đơn vị về Cưới nhau xong là đi Từ chiến khu xa Nhớ về ái ngại Lấy chồng thời chiến binh Mấy người đi trở lại Nhỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê… Nhưng không chết người trai khói lửa Mà chết người gái nhỏ hậu phương Tôi về không gặp nàng Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương tàn lạnh vây quanh Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi Em ơi giây phút cuối không được nghe nhau nói không được trông nhau một lần Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím áo nàng màu tím hoa sim Ngày xưa một mình đèn khuya bóng nhỏ Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa… Một chiều rừng mưa Ba người anh trên chiến trường đông bắc Được tin em gái mất trước tin em lấy chồng Gió sớm thu về rờn rợn nước sông Đứa em nhỏ lớn lên Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí Chiều hành quân Qua những đồi hoa sim Những đồi hoa sim những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau Chiều hoang tím có chiều hoang biết Chiều hoang tím tím thêm màu da diết Nhìn áo rách vai Tôi hát trong màu hoa Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu… Màu tím hoa sim, tím tình trang lệrớm Tím tình ơi lệ ứa Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím Tôi ví vọng về đâu Tôi với vọng về đâu Áo anh nát chỉ dù lâu… (1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh) Hữu Loan © Hữu Loan Nguồn: Huỳnh Ngọc Chênh blog.

Thứ Bảy, 18 tháng 9, 2021

1-Bánh trôi nước Thân em vừa trắng, lại vừa tròn, Bảy nổi ba chìm với nước non. Lớn nhỏ mặc dù tay kẻ nặn, Mà em vẫn giữ tấm lòng son. 2-Vịnh cái quạt Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa, Duyên em dính dán tự bao giờ, Chành ra ba góc da còn thiếu, Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa. Mát mặt anh hùng khi tắt gió, Che đầu quân tử lúc sa mưa. Nâng niu ướm hỏi người trong trướng, Phì phạch trong lòng đã sướng chưa? 3-Cảnh thu Thánh thót tầu tiêu mấy hạt mưa, Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ, Xanh ôm cổ thụ tròn xoe tán, Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ. Bầu dốc giang sơn say chấp rượu. Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ. Ơ hay, cánh cương ưa người nhỉ, Ai thấy, ai mà chẳng ngẩn ngơ. 4-Thơ tự tình Tiếng gà xao xác gáy trên vòm Oán hận trông ra khắp mọi chòm Mõ thảm không khua mà cũng cốc Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ Sau hận vì duyên để mõm mòm Tài tử văn nhân ai đó tá Thân này đâu đã chịu già tom. 5-Vấn nguyệt Trải mấy thu nay vẫn hãy còn, Cớ sao khi khuyết lại khi tròn? Hỏi con Bạch Thố đà bao tuổi? Hỏi chị Hằng Nga đã mấy con? Đêm tối cớ sao soi gác tía? Ngày xanh còn thẹn mấy vầng tròn. Năm canh lơ lửng chờ ai đó? Hay có tình riêng mấy nước non? 6-Động Hương tích Bầy đặt kìa ai khéo khéo phòm, Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom. Người quen cõi Phật chen chân xọc, Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm. Giọt nước hữu tình rơi thánh thót, Con thuyền vô trạo cúi lom khom. Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại, Rõ khéo trời già đến dở dom. 7-Hoạ Nhân Vài hàng chữ gấm chạnh niềm châu, Nghĩ tưởng năm canh nguyệt hé lầu. Lá nhuộm thức lam thêm vẻ thẹn, Sương pha khói biếc rộn thêm sầu. Thẩn thơ trước viện, nhà khoe gió, Đồng vọng bên tai, địch thét đâu, Ướm hỏi trăng già khe khắc bấy, Trêu nhau chi những sợi cơ cầu. 8-Đá Ông Bà Chồng Khéo khéo bày trò tạo hoá công Ông Chồng đã vậy lại Bà Chồng Tầng trên tuyết điểm phơ đầu bạc Thớt dưới sương pha đượm má hồng Gan nghĩa dãi ra cùng chị Nguyệt Khối tình cọ mãi với non sông Đá kia còn biết xuân già giặn Chả trách người ta lúc trẻ trung 9-Hỏi Trăng Một trái trăng thu chín mõm mòm, Nảy vừng quế đỏ đỏ lòm lom! Giữa in chiếc bích khuôn còn méo, Ngoài khép đôi cung cánh vẫn khòm. Ghét mặt kẻ trần đua xói móc, Ngứa gan thằng Cuội đứng lom khom. Hỡi người bẻ quế rằng ai đó, Đó có Hằng Nga ghé mắt dòm. 10-Duyên Kỳ Ngộ Nghìn dặm có duyên sự cũng thành, Xin đừng lo lắng hết xuân xanh. Tấc gang tay họa thơ không dứt, Gần gụi cung dương lá vẫn lành. Tên sẵn bút đề dường chĩnh chện, Trống mang dùi cắp đã phanh phanh. Tuy không thả lá trôi dòng ngự, 11-Canh khuya Canh khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan mấy nước non Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây đá mấy chòm Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình son trẻ tí con con 12-Chơi khán đài Êm ái chiều xuân tới Khán Đài Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai Bốn mùa triêu mộ, chuông gầm sóng Một vũng tang thương, nước lộn trời Bể ái ngàn trùng khôn tát cạn Nguồn ân trăm trượng dễ khơi vơi Nào là cực lạc là đâu tá? Cực lạc là đây, chín rõ mười 13-Chùa sài sơn Khen thay con tạo khéo khôn phàm Một đố giương ra biết mấy ngàm Triền đá cỏ leo sờ rậm rạp Lạch khe nước rỉ mó lam nham Một sư đầu trọc ngồi khua mõ Hai tiểu lưng tròn đứng giữ am Đến nơi mới biết rằng Thánh Hoá Chồn chân mỏi gối hãy còn ham 14-Đánh Đu Bốn cột khen ai khéo khéo trồng,(1) Người thì lên đánh kẻ ngồi trông, Trai đu gối hạc khom khom cật Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng. Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới, Hai hàng chân ngọc duỗi song song. Chơi xuân có biết xuân chăng tá. (2) Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!(3) 15-Đề nhị mĩ nhân đồ Ấy bao nhiêu tuổi hỡi cô mình Chị cũng xinh mà em cũng xinh Trăm vẻ như in tờ giấy trắng Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh Phiếu mai chăng dám đường kia nọ Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh Có một thú vui sao chẳng vẽ Trách người thợ ấy khéo vô Tinh 16-Lấy chồng chung Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung Năm chừng mười họa hay chăng chớ Một tháng đôi lần có cũng không Cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng Cầm bằng làm mướn mướn không công Nỗi này ví biết dường này nhỉ Thời trước thôi đành ở vậy xong 17-Tự tình 1 Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom, Oán hận trông ra khắp mọi chòm. Mõ thảm không khua mà cũng cốc, Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om. Trước nghe những tiếng thêm rầu rỉ, Sau giận vì duyên để mõm mòm. Tài tử văn nhân ai đó tá? Thân này đâu đã chịu già tom! 18-Tự tình 2 Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non. Chén rượu hương đưa say lại tỉnh, Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn, Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám. Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn. Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con! 19-Tự tình 3 Chiếc bánh buồn vì phận nổi nênh, Giữa dòng ngao ngán nỗi lêng đênh. Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng, Nửa mạn phong ba luống bập bềnh. Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến, Giong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh. Ấy ai thăm ván cam lòng vậy, Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh. 20-Chế sư Chẳng phải Ngô chẳng phải ta Đầu thì trọc lốc áo không tà Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà Khi cảnh khi tiu khi chũm choẹ Giọng hì giọng hỉ giọng hi ha Tu lâu có nhẽ lên sư cụ Ngất nghểu toà sen nọ đó mà 21. Ốc Nhồi Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi, Quân tử có thương thì bóc yếm Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi. 22-Hang cắc cớ Trời đất sinh ra đá một chòm Nứt làm đôi mảnh hổng hòm hom Kẽ hầm rêu mọc trơ toen hoẻn Luồng gió thông reo vỗ phập phòm Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm Con đường vô ngạn tối om om Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm 23- Du cổ tự Thầy tớ thong dong dạo cảnh chùa Cầm thư lưng túi rượu lưng hồ Cá khe lắng kệ đầu ngơ ngác Chim núi nghe kinh cổ gật gù Then cửa từ bi nêm chật cánh Nén hương tế độ cắm đầy lò Nhà sư ướm hỏi nhà sư tí Phúc đức nhà ngươi được mấy bồ 24. Lỡm Học Trò Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ Lại đây cho chị dạy làm thơ Ong non ngứa nọc châm hoa rữa Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa 15-Đánh cờ Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc, Ðốt đèn lên đánh cuộc cờ người. Hẹn rằng đấu trí mà chơi, Cấm ngoại thuỷ không ai được biết. Nào tướng sĩ dàn ra cho hết, Ðể đôi ta quyết liệt một phen. Quân thiếp trắng, quân chàng đen, Hai quân ấy chơi nhau đà đã lửa. Thoạt mới vào chàng liền nhảy ngựa, Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên. Hai xe hà, chàng gác hai bên, Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sĩ. Chàng lừa thiếp đương khi bất ý, Ðem tốt đầu dú dí vô cung, Thiếp đang mắc nước xe lồng, Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu. Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu, Thua thì thua quyết níu lấy con. Khi vui nước nước non non, Khi buồn lại giở bàn son quân ngà. 16-Vịnh Nằm Ngủ Trua hè hây hẩy gió nồm đông Tiên nữ nằm chơi quá giấc nồng Lược trúc chải cài trên mái tóc Yếm đào trễ xuống dưới nương long Ðôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt Ði thì cũng dở ở sao xong 17-Dệt Cửi Đêm Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau Con cò mấp máy suốt đêm thâu Hai chân đạp xuống năng năng nhắc Một suốt đâm ngang thích thích mau Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả Ngắn dài khuôn khổ vẫn như nhau Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ Chờ đến ba thu mới dãi màu 18-Đưa Đò Chú lái kia ơi, biết chú rồi, Qua sông rồi lại đấm ngay bòi! Chèo ghe vừa khỏi dòng sông ngược, Đấm cọc ngay vào ngấn nước xuôi. Mới biết lên bờ đà vỗ đít, Nào khi giữa khúc đã co vòi. Chuyến đò nên nghĩa sao không nhớ? Sang nữa hay là một chuyến thôi? 19-Đánh Đu Bốn cột khen ai khéo khéo trồng, Người thì lên đánh kẻ ngồi trông, Trai co gối hạc khom khom cật Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng. Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới, Hai hàng chân ngọc duỗi song song. Chơi xuân đã biết xuân chăng tá. Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không! 20-Tát Nước Đang cơn nắng cực chửa mưa tè, Rủ chị em ra tát nước khe. Lẽo đẽo chiếc gầu ba góc chụm, Lênh đênh một ruộng bốn bờ be. Xì xòm đáy nước mình nghiêng ngửa, Nhấp nhổm bên ghềnh đít vắt ve. Mải việc làm ăn quên cả mệt, Dạng hang một lúc đã đầy phè. 21-Thương Ôi Phận Gái Thương ôi phận gái cũng là chồng Ghét bỏ nhau chi hỡi Nguyệt ông Rồng tắm ao tù từng phận tủi Mưa gieo xuống giếng uổng lòng mong Xót thân hoa nở song lầm cát Thẹn mặt trần ai đứng giữa vòng Âu hẳn tiền nhân sao đấy tá Thôi đành một kiếp thế cho xong 22-Thương Thay Phận Gái Thương thay phận gái cũng là người Nỡ bỏ xuân xanh quá nửa đời Ông Nguyệt nỡ nào trêu quải mãi Chị Hằng khéo nhẽ éo le thôi Hoa còn phong nhụy ong ve vãy Gió đã phai hương bướm tả tơi Quá ngán thợ trời ghê gớm bấy Xuân xanh được mấy chút thương ôi 23-Vấn Nguyệt Trải mấy thu nay vẫn hãy còn, Cớ sao khi khuyết lại khi tròn? Hỏi con Bạch Thố đà bao tuổi? Hỏi chị Hằng Nga đã mấy con? Đêm tối cớ sao soi gác tía? Ngày xanh còn thẹn mấy vầng tròn. Năm canh lơ lửng chờ ai đó? Hay có tình riêng mấy nước non? 24Thơ Tự Tình Tiếng gà xao xác gáy trên vòm Oán hận trông ra khắp mọi chòm Mõ thảm không khua mà cũng cốc Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ Sau hận vì duyên để mõm mòm Tài tử văn nhân ai đó tá Thân này đâu đã chịu già tom 25-Thương Há dám thương đâu kẻ có chồng, Thương vì một nỗi hãy còn không. Thương con cuốc rũ kêu mùa Hạ, Thương cái bèo non giạt bể Ðông. Thương cha mẹ nhện vương tơ lưới, Thương vợ chồng Ngâu cách mặt sông. Ấy thương quân tử thương là thế, Há dám thương đâu kẻ có chồng. 26-Tình Có Theo Ai Tình có theo ai nhớ lấy lời Những lời vàng đá phải lời chơi Đường tuy nửa bước xa ngàn dặm Duyên chửa trăm năm cũng một đời Tần Tấn đã đành duyên gặp gỡ Ngô Lào chi quản chuyện xa xôi Trăng thề muôn kiếp trơ trơ đó Tình có theo ai nhớ lấy lời 27-Cảnh Thu Thánh thót tầu tiêu mấy giọt mưa, Bút thần khôn vẽ cảnh tiếu sơ, Xanh om cổ thụ tròn xoe tán, Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ. Bầu dốc giang sơn say chấp rượu, Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ, Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ. 28-Duyên Kỳ Ngộ Nghìn dặm có duyên sự cũng thành Xin đừng lo lắng hết xuân xanh Tấc gang tay họa thơ không dứt Gần gũi cung dương lá vẫn lành Tên sẵn bút đề dường chĩnh chện Trống mang dùi cắp đã phanh phanh Tuy không thả lá trôi dòng ngự Chim tới vườn đào thế mới xinh 29-Ngại Ngùng Ngại ngùng chưng những lúc phân kỳ Vó ký dùng dằng bước chẳng đi Lưu giản đôi câu sa giọt ngọc Tương tư nửa gánh nặng vai chì Cầm thông sầu gảy năm cung biệt Rượu cúc say nghiêng một chén ly Tưởng nước non này trăng gió ấy Thấu tình chăng nhẽ khách tương tri 30- Không chồng mà chửa Cả nể cho nên hoá dở dang, Sự này có thấu hỡi chăng chàng. Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc, Phận liễu sao mà nảy nét ngang. Cái tội trăm năm chàng chịu cả, Chữ tình một khối thiếp xin mang. Quản chi miệng thế lời chênh lệch, Chẳng thế nhưng mà thế mấy ngoan.