Thứ Hai, 28 tháng 4, 2014

CƯỜI CHÚT CHƠI

Logo thu gian 2

Tr cuoi 5NHỮNG CÂU NÓI VUI BẤT HỦ

1. Vạn sự khởi đầu nan, gian nan bắt đầu nản.
2. Học đi đôi với hành, hành đi đôi với tỏi.
3. Học… học nữa… học mãi………đuổi…. nghỉ !
4. Không mày đố thầy dạy ai.
5. Nói tiếng anh như gió, gặp từ khó…. ta bắn sang tiếng Việt.
6. Không phải người đàn bà nào cũng đẹp và không phải người đẹp nào cũng là đàn bà!
7. Xăng có thể cạn, lốp có thể mòn, nhưng số máy, số khung sẽ không bao giờ thay đổi.
8. Bạn có thể là anh hùng, nếu bạn tên là Hùng và có 1 đứa em.
Tr vui9. Bạn có thể là bác sỹ, nếu bạn tên Sỹ và bạn có 1 đứa cháu.
10. Khi có một con mèo đen đi qua trước mặt bạn thì điều đó có nghĩa là nó đang đi đâu đó.
11. Yêu nhau không phải là ta nhìn nhau mà là cùng nhau nhìn về…. chiếc xe dựng gốc cây kẻo kẻ gian chôm mất.
12. Khi bạn ở bên một người mà thời gian trôi qua thật nhanh còn khi xa người đó thì thời gian trôi qua thật chậm, thì đó là lúc bạn... phải đem đồng hồ đi sửa.
13. Bầu ơi thương lấy bí cùng… mai sau có lúc nấu chung một nồi.
14. Tài sản lớn nhất của mỗi người là tình bạn, đặc biệt là với những bạn... có tài sản.
15. Tôi có thể cưỡng lại tất cả mọi thứ… trừ sự cám dỗ.
16. Sống là phải cho đi ! Hãy cho đi tất cả để rồi nhận ra rằng... đòi lại là rất khó.

Yên Nhàn chuyển tiếp  

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

GỎI SẦU ĐÂU

Gỏi Sầu Đâu Mùa Nước Nổi

Hằng năm, từ giữa mùa đông đến đầu xuân, sầu đâu bắt đầu thay lá, đơm bông. Tuy nhiên, người địa phương thường lặt đọt non quanh năm để làm một số món ngon.Lá sầu đâu nhỏ, dài và mọc đối xứng qua cuống. Đọt non có màu tim tím, còn gọi là cây xoan ăn gỏi, trồng khá phổ biến ở Long Xuyên, Châu Đốc và vùng Bảy Núi, An Giang. Mùa nước nổi, lá sầu đâu mơn mởn, non tơ, chấm mắm kho, cá kho, ăn với cá linh non kho mẳn hoặc ăn kèm với mắm thái, mắm chưng… mới nghe vị đăng đắng mà ngọt của lá sầu đâu, càng ăn càng cảm thấy khoái khẩu.Món gỏi sầu đâu càng tuyệt chiêu hơn, tôm, thịt, cá… thứ nào trộn gỏi cũng tuyệt. Gỏi sầu đâu mới ăn thường cảm thấy đắng, nhưng đã biết là phát ghiền, nhất là trộn chung với khô cá lóc, cá sặt rằn; hoặc trộn với khô cá tra phồng, cá dứa cũng ngon đáo để.
Làm gỏi, chọn những tược non đang đơm bông, lặt lá, bông để trộn với khô nướng xé từng miếng nhỏ để nguội. Trộn thêm dưa leo và cà chua xắt mỏng để… làm duyên. Bí quyết món gỏi này là trộn với nước me chua thêm chút đường, nước mắm nhỉ và ớt sao cho hội đủ các vị mặn, ngọt, chua, cay, đắng, bùi mới… đạt đạo. Nước chấm phải là nước mắm me đậm đặc, cay, chua nhưng vừa ăn để làm đậm thêm vị .
Dùng nước chanh hoặc giấm sẽ làm hỏng món dân dã này. Ngon lành hơn có thể trộn với tôm sú và thịt ba rọi xắt mỏng, kèm thêm dưa leo hoặc xoài chua bằm. Không những có được món gỏi ngon mà tài liệu y dược cho biết, đọt sầu đâu có chất khổ vị tố (chất đắng) trị lãi. Còn theo kinh nghiệm dân gian thì đọt sầu đâu làm mát gan, chống lãi và trị nhức mỏi.
SGTT Media

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH ĐẤT AN GIANG

Lịch Sử Hình Thành Vùng Đất An Giang


Nguyen Huu Canh
Nguyễn Hữu Cảnh
Người Việt bắt đầu đến vùng đất An Giang từ lúc nào, đến nay  chưa thấy sử sách ghi chép rõ ràng. Tuy nhiên theo truyền thuyết dân gian và một số vết tích còn lại, thì đã có một số nhóm người Việt gốc miền Trung vào đây từ rất lâu.
Mặc dù cuộc sống ban đầu gặp rất nhiều khó khăn, nguy hiểm nhưng họ vẫn kiên trì tìm đất sống. Họ ở rải rác dọc theo bờ sông Tiền và sông Hậu.
Khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, đã thấy có người Việt ở vùng Bình Mỹ (Châu Phú), vùng Châu Đốc và vùng cù lao Cây Sao (cù lao Ông Chưởng). Tương truyền khi thuyền quân xuôi dòng Cửu Long (1700), Nguyễn Hữu Cảnh ghé lại những nơi có người Việt ở để thăm hỏi và khích lệ mọi người giữ tình thân thiện dù không cùng chủng tộc. Ông cũng cho phép một số binh phu được ở lại theo ven sông vùng Châu Phú, Châu Đốc, Tân Châu, Chợ Mới cày cấy làm ăn .
Lưu dân ở vùng Cù lao Ông Chưởng được gọi là dân “hai huyện” (Phước Long và Tân Bình).
Chiều chiều quạ nói với diều. Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm
Chiều chiều quạ nói với diều. Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm
Họ được xem là mẫu mực về thuần phong mỹ tục, giữ vững được nếp ăn, nếp nghĩ của người Việt. Từ Chợ Mới đến Cái Hố theo lòng rạch Ông Chưởng, ta gặp một số gia đình cố cư, ông bà của họ đến đây cư ngụ từ đời Gia Long, Minh Mạng hoặc lâu hơn (6 đời).
Ở Cù lao Giêng, có một địa danh xưa là bến đò Phủ Thờ. Phủ Thờ này là của họ Nguyễn từ Bình Định vào, con cháu ngày nay ở vào đời thứ 7, thứ 8, cư ngụ kề nhau đông đúc.Người Việt đi vào phương Nam lập nghiệp với cả gia đình cha mẹ, vợ con, và khi đã đến thì không thể về, vì quá xa.
Nhờ các chính sách của Chúa Nguyễn mà công cuộc khai hoang mở mang bờ cỏi phương Nam của dân Việt ngày càng nhanh chóng.
Khi tỉnh An Giang mới thành lập, dọc theo hữu ngạn sông Tiền, dân cư khá đông, tập trung ở cù lao Ông Chưởng. Một số thôn, xã được thành lập. Riêng cù lao Giêng tuy không rộng lắm, nhưng sanh kế dễ dàng, nên qui tụ được 4 thôn.
Phía hữu ngạn sông Hậu, dân cư thưa thớt. Từ biên giới Việt – Miên xuống Long Xuyên chỉ có các làng Bình Thạnh Tây (đối diện Bình Thạnh Đông bây giờ), Bình Đức, Mỹ Phước.
Vùng An Giang gồm 2 khu vực mới và cũ riêng biệt :
- Phía Tân Châu, Ông Chưởng, Chợ Mới dễ canh tác, dân đông, làng cũ vì đã lập từ lâu .
- Phía hữu ngạn sông Hậu, là vùng rừng núi hoang vu, đất khó canh tác, dân thưa thớt, làng mới lập .
Việc di dân lập ấp ở An Giang có công đóng góp rất lớn của Thoại Ngọc Hầu, bắt đầu từ năm Đinh Sửu 1817. Lúc bấy giờ nhiều nhà cửa của nông dân đã được dựng lên, các đình chùa cũng bắt đầu xây cất. Năm 1818, theo lệnh triều đình, Nguyễn Văn Thoại đốc suất đào kinh Đông Xuyên ra đến Rạch Giá, tạo điều kiện canh tác thuận lợi cho dân khẩn hoang 2 bên bờ kênh.
Đào kênh Vĩnh Tế xong, Nguyễn Văn Thoại cho đắp con đường từ Châu Đốc đến núi Sam, nhờ đó mà dân từ Châu Đốc vào núi Sam khẩn ruộng, lần hồi tiến đến khai phá vùng Tịnh Biên .
Đầu thế kỷ XIX đã nhiều lần quân Xiêm xâm lấn nước ta. Hà Tiên, Châu Đốc là những vùng bị thiệt hại trước tiên và nặng nề nhất. Năm 1833, giặc Xiêm tàn phá dọc kênh Vĩnh Tế, chiếm Châu Đốc và tràn qua Tân Châu. Nhưng chỉ 5 năm sau dân cư đã quy tụ trở lại, thành lập hàng chục thôn rải rác từ núi Sam dọc theo 2 bờ kênh Vĩnh Tế về phía Hà Tiên .
Vùng Châu Đốc là biên cương hiểm trở, vừa sản xuất vừa phải đối phó với ngoại xâm. Mỗi người dân khẩn hoang là một lính thú biên cương.
Gia tộc Lê Công gốc Thanh Hóa là một trong những nhóm di dân đến khai phá vùng Châu Đốc (khoảng năm 1785 – 1837). Hiện con cháu đời thứ 7 còn cư ngụ ở đây .Gia tộc thứ 2 cũng có công khai phá vùng Châu Đốc là dòng Nguyễn Khắc, thuộc con cháu của Nguyễn Văn Thoại .
Dưới đời vua Minh Mạng, tội phạm lưu đày phần lớn gom về vùng Vĩnh Tế để lập các xóm dọc bờ kênh, dần dần hình thành vùng dân cư .
Nguyễn Tri Phương, khi làm kinh lược sứ ở miền Nam, đã có sáng kiến lập đồn điền biên giới nhằm ngăn giặc, yên dân, tập trung ở vùng Châu Đốc, Hà Tiên. Năm 1854, Nguyễn Tri Phương báo cáo đã thành lập được 21 cơ đồn điền. Hai năm sau, tỉnh An Giang và Hà Tiên đã chiêu mộ được 1.646 dân đinh, lập 159 thôn ấp .
Trong thời gian này, người Chăm ở ngang chợ Châu Đốc (Đa Phước, Châu Phong) cũng gom lại từng đội, do 1 viên Hiệp quản đứng đầu. Từ bên Chân Lạp, người Chăm rút về nương náu trong lãnh thổ Việt Nam để tránh loạn lạc nội chiến bên Chân Lạp, rồi định cư luôn ở Tân Châu, An Phú . . . . .
Cùng thời đó, người theo đạo Thiên Chúa lánh nạn kỳ thị tôn giáo của vua quan nhà Nguyễn từ miền ngoài đến khá sớm ở cù lao Giêng (1778), Bò Ót (1779) và Năng Gù (1845) đã làm tăng thêm dân số vùng đất An Giang.
Tư liệu trước đây nói về nguồn gốc các dân tộc thiểu số ở An Giang như :
- Người Khmer: Là dân bản địa kì cựu, hầu hết đều sinh ở Việt Nam nên gọi là người Việt gốc Khmer, tập trung nhiều nhất ở các quận Tri Tôn và Tịnh Biên. Phong tục và tiếng nói của họ cũng không khác người Khmer ở chánh quốc. Họ sùng bái đạo Phật, tôn kính các sư sãi và sẵn sàng dâng cúng cho chùa những huê lợi do họ làm ra để cầu phúc.- Người Chăm và người Mã Lai đến ở vùng Châu Đốc từ năm 1840. Trước kia họ sống ở Cao Miên.
- Người Hoa: Theo dụ số 48 ngày 21/8/1956 của chính quyền Ngô Đình Diệm sửa đổi bộ luật quốc tịch Việt Nam, thì những người Hoa sinh đẻ tại Việt Nam kể như dân Việt Nam.Đến An Giang còn có những người theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Lực lượng này gồm dân các tỉnh chung quanh (Gia Định, Mỹ Tho, Vĩnh Long…) theo về với đạo, phần lớn tập trung khai phá vùng Thất Sơn, rừng núi hoang vu.
- Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương do cụ Đoàn Minh Huyên sáng lập, chia nhiều đoàn tín đồ đến khai khẩn nhiều nơi:
● Đoàn 1 vào Thất Sơn , bên chân núi Két, do cụ Bùi Văn Thân, tức tăng chủ Bùi Thiền sư và cụ Bùi Văn Tây, tức Đình Tây hướng dẫn, lập nên các trại ruộng Hưng Sơn và Xuân Sơn, sau này hợp thành xã Thới Sơn (Tịnh Biên).
● Đoàn 2 do cụ Quản cơ Trần Văn Thành chỉ huy, đến Láng Linh, vùng đầm lầy khai hoang, lập đồn, tụ nghĩa binh chống Pháp.
● Đoàn 3 do cụ Nguyễn Văn Xuyến (tức đạo Xuyến) đưa tín đồ về Cái Dầu-Bình Long (Châu Phú).
- Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa do cụ Ngô Lợi khởi xướng, cũng đã đưa hàng trăm tín đồ từ khắp nơi về vùng núi Tượng, núi Dài khai hoang, lập làng , giáo huấn tứ ân.Theo Quốc triều chính biên toát yếu của Quốc sử quán triều Nguyễn, năm 1847 tỉnh An Giang, số đinh theo báo cáo của Bộ Hộ có 22.998 người (cả nước Việt Nam khi đó số đinh chỉ có 1.024.388 người).
Đến năm 1930, chấm dứt các chính sách di dân khẩn hoang vào miền Nam. Qua số liệu niên giám thống kê của Pháp năm 1921, dân số 2 tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc cộng lại đông đứng thứ nhất đồng bằng sông Cửu Long.
Theo: angiang.gov.vn

CÙ LAO ÔNG HỔ

Cù Lao Ông Hổ: Lịch Sử Cái Tên

Lênh đênh sông nước khoảng nửa tiếng là đặt chân lên mảnh đất lịch sử này, nay thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, TP Long Xuyên. Cù lao xanh ngắt bóng tre và cây ăn trái, thấp thoáng những mái nhà nhỏ bé, yên bình. Từ dưới bến phà vào cù lao đã thấy hai bức tượng hổ to lớn được tạc bằng đá uy nghi đứng trấn cổng vào. Đó là biểu tượng của vùng đất này từ 300 năm qua. Có hai truyền thuyết giải thích địa danh “Ông Hổ”.
Theo Sơn Nam, ngày xưa, nơi đây cũng như nhiều địa phương khác trên vùng đất phương Nam, cảnh “dưới sông cá lội, trên bờ cọp đua” hay “cọp ngồi bờ kinh xem… hát bội” là thường.
Tương truyền, một hôm có hai vợ chồng ông lão chèo xuồng đi lấy củi. Khi trở về thấy trên mảng lục bình trôi sông có một con hổ con vừa đói vừa rét, bèn đem về nhà nuôi dưỡng. Khi lớn lên, con hổ rất hiền lành, không phá phách ai. Khi hai ông bà qua đời, hổ cũng bỏ vào rừng.
Hằng năm, tới ngày giỗ ông bà, hổ đều mang về một con heo rừng đặt bên mộ rồi đi. Dân làng vì thấy con vật sống có nghĩa nên đặt tên nơi đây là cù lao Ông Hổ và lập miếu thờ.
Theo nhà thơ Trịnh Bửu Hoài, Hội VHNT tỉnh An Giang, vào thời khẩn hoang, những người đi mở đất từ phía Long Xuyên đã chặt cây rừng kết bè vượt sông Hậu sang khai phá, lập làng.
Có một năm, nước sông Hậu dâng lên cuồn cuộn như nhấn chìm dải cù lao. Gia đình nọ trong lúc chống xuồng tránh lũ đã phát hiện một chú hổ con bị kiệt sức, sắp chết đuối. Họ vớt hổ con đưa về chăm sóc, cho ăn ở cùng với người. Đáp lại ơn cứu mạng, hổ thường vào rừng săn bắt muông thú về cho gia chủ.
Gia đình ấy có một cô con gái bị mù. Hằng ngày, hổ cõng cô bé mù theo cha mẹ vào rừng làm rẫy. Người và hổ thân thiết như đôi bạn tri kỷ. Đến một ngày, cô gái đổ bệnh qua đời. Hổ buồn rầu và một thời gian sau cũng chết theo.
Dân làng thấy hổ ăn ở có tình có nghĩa chẳng khác gì con người nên đã lập miếu thờ, gọi là miếu thờ ông Hổ. Cái tên cù lao ông Hổ cũng ra đời từ đó. Dù hai câu chuyện có chút khác nhau nhưng đều thể hiện tính hiếu sinh của con người. Con người có thể sống chan hòa cùng vạn vật và cảm hóa cả loài mãnh thú.
Nguồn:angiang.gov.vn

CÙ LAO ÔNG CHƯỞNG

Cù Lao Ông Chưởng

“Bao phen quạ nói với diều
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm”
Trịnh Hoài Đức viết trong Gia Định thành thông chí: “Lễ công giang thượng khẩu tục gọi là vàm Ông Chưởng; cửa sông nầy rộng 8 tầm, sâu 8 thước ta. Trước cửa sông có cù lao nhỏ và nhân tên sông mà gọi tên cù lao ấy (cù lao Ông Chưởng), ở cách phía tây đạo Đông Khẩu 90 dặm rưỡi. Sông chảy vào nam 60 dặm rưỡi đến hạ khẩu rồi hợp lưu với Hậu Giang. Bờ phía tây có sở thủ ngự Hùng Sai, bờ phía tây thượng khẩu có miếu thờ Khâm sai Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn (Nguyễn Hữu Cảnh) vì dân ở đấy cho rằng ông có công dẹp yên Cao Miên, khai thác đất này, nên nhân dân nhớ công đức mà lập miếu thờ”. Sự kính trọng Nguyễn Hữu Cảnh trong lòng người dân cù lao Ông Chưởng còn được Nguyễn Liên Phong nhấn mạnh trong “Nam kỳ phong tục diễn ca” (năm 1909):
“Sông Lễ Công chỗ cù lao,
Miếu quan Chưởng Lễ thuở nào lưu lai.
Đồng Nai cũng có miễu ngài,
Nam Vang, Châu Đốc lại hai chỗ thờ.
Coi ra hiển hách bây giờ,
Cù lao Ông Chưởng tư cơ đứng đầu”.
Trên đất cù lao Ông Chưởng có không biết “cơ man” miếu thờ Nguyễn Hữu Cảnh mà người dân trân trọng gọi là “Dinh thờ Ông Lớn” hoặc “Dinh Ông”, còn tên chính thức thì tùy theo từng “dinh”. Ông Ngô Văn Lữ (Hai Lữ), 60 tuổi, người hiến đất khi Dinh thờ Quan Thượng đẳng đại thần Nguyễn Hữu Cảnh ở Vàm Sau dời về Long Kiến (An Thạnh Trung) thì Quan Kinh lược qua Campuchia bị bịnh, về Vàm Trên (Kiến An) dự Tết Đoan ngọ cùng nhân dân, sau đó chuyển đến Biên Hòa mới mãn phần. Thật ra, theo Sơn Nam: “Sau khi trấn dẹp yên giặc cướp trên sông Tiền, khuấy rối vùng cù lao Giêng (Chợ Mới), quân Nguyễn Hữu Cảnh trở về trú đóng tại con rạch, nay là “Lòng Ông Chưởng” để chờ lịnh trên”. Gia Định thành thông chí chép chi tiết: Đêm 26 tháng 4 Canh Thìn (1700), gió mưa tầm tã, nơi đầu cù lao đất lở sụp, gây tiếng vang như sấm. Đêm ấy ông (Nguyễn Hữu Cảnh) nằm mộng thấy một người cao lớn mặc áo gấm, tay cầm cây búa vàng, mặt như thoa phấn đỏ, râu mày bạc trắng, đến trước mặt ông mà bảo rằng: “Tướng quân nên kéo quân về cho sớm, không nên ở lâu nơi ác địa này”. Ông thức dậy, lo buồn. Bấy giờ việc biên cảnh chưa hoàn thành, dư đảng giặc còn núp trong rừng núi. Trong lúc ông do dự chưa biết nên rút lui hay nên ở thì phần lớn quân sĩ lại mang bịnh dịch. Ông cũng nhiễm bịnh, hai chân tê bại, ăn uống không được. Gặp ngày Tết Đoan ngọ (mùng 5 tháng 5), ông miễn cưỡng ra dự tiệc để khuyến lạc tướng sĩ, rồi ông trúng phong và thổ huyết, bịnh tình lần lần trầm trọng. Ngày 14, ông kéo binh về, ngày 16 đến Sầm Giang (Rạch Gầm) rồi mất”. Để tưởng nhớ công ơn mở cõi đất phương Nam của ông, nhân dân nhiều nơi khu vực này đã lập đền thờ ông. Ở cù lao Ông Chưởng có hai dinh quan trọng: Dinh Ông Long Kiến và Dinh Ông Kiến An. Dinh Ông Kiến An về sau vì đất lở nên chia hai, thêm Dinh Ông thị trấn (Chợ Mới).
Dinh Quan Chưởng binh Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh ở thị trấn Chợ Mới tọa lạc trên diện tích khoảng 2.000m2 với lối kiến trúc đặc trưng Nam Bộ cùng một số công trình đậm nét văn hóa dân tộc. Trước cổng dinh là một cây da um tùm tàn lá, gốc rất lớn, áng chừng cây có trên 300 năm. Dinh đã được tỉnh An Giang công nhận là Di tích văn hóa – lịch sử. Ông Nguyễn Quang Thâm, 81 tuổi, trong ban tế tự Dinh Ông thị trấn trước kia cho biết dinh này lớn hơn hết, đối diện Dinh Ông Kiến An, giữa là sông Ông Chưởng. Lễ hội Kỳ yên (lễ giỗ Ông) lần thứ 311 (Tân Mão, 2011) vừa qua tại Dinh Ông thị trấn diễn ra trong 3 ngày 8, 9 và 10 với nhiều nghi thức long trọng, như: lễ thỉnh các vị linh thần khởi hành từ dinh đến Linh miếu Hội đồng, nghĩa trang liệt sĩ, chùa Ông, đình thần Chợ Thủ, đình thần Mỹ Luông, trở về làm lễ an vị, lễ tiên nghinh, chánh tế, xây chầu, tiếp giá đại bội. Ngoài vui chơi, thể thao, còn rước đoàn hát bội biểu diễn 3 vở tuồng: “Lưu Kim Đính”, “Tiêu Anh Phụng” và “San Hậu”, thu hút rất đông người đến dự.
Từ xa xưa cù lao Ông Chưởng nổi tiếng khắp Nam kỳ lục tỉnh với một số nghề thủ công, đó là nghề vẽ tranh kiếng và nghề mộc Chợ Thủ.
Nghề vẽ tranh kiếng nằm trên địa phận xã Long Điền và Long Điền B, mà những nhà nghiên cứu văn hóa dân gian thường gọi là “Dòng tranh Chợ Mới”. “Dòng tranh Chợ Mới bắt đầu từ năm 1954 do nghệ nhân Trần Văn Ty (Mười Ty) phổ biến. Trước kia ông học nghề và làm nghề tranh kiếng theo trường phái Lái Thiêu tại Cần Thơ. Khi về Chợ Mới ông nghiên cứu thấy người dân địa phương theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa hoặc Phật giáo Hòa Hảo thích thờ tổ tiên với bốn chữ “Cửu huyền thất tổ” nên mới sáng tác các mẫu tranh thờ đặc biệt cho vùng này. Bên cạnh đó, ông còn theo cách vẽ của họa sĩ Lê Trung, Hoàng Lương… sáng tác các loại tranh treo cửa buồng theo tích Tấm Cám, Thoại Khanh – Châu Tuấn, Phạm Công – Cúc Hoa, Lưu Bình – Dương Lễ. Thị trường tranh còn mở rộng khắp Nam Bộ nên sau 20 năm hành nghề, số học trò của ông Tỵ qua mấy thế hệ đã có khoảng một ngàn người” (*).
Thời bấy giờ, khi đến chợ Bà Vệ (Long Điền) là người ta thấy hai bên đường phơi đầy những bức tranh kiếng vừa mới hoàn thành. Và trên đường thấy nhiều chiếc xe đạp hai bên yên sau cột đầy tranh kiếng tỏa đi bán khắp nơi. Nhưng hiện nay tới đây chỉ thấy lác đác mấy bức tranh kiếng rải phơi bên đường, phải chú ý lắm mới phát hiện một cơ sở sản xuất tranh kiếng. Theo ông Nguyễn Thanh Hòa, 47 tuổi, chủ cơ sở tranh kiếng Thanh Hòa (ấp Long Tân, Long Điền), hiện tại chỉ còn khoảng 10 gia đình làm tranh kiếng. Ông tâm sự đây là nghề gia truyền mà ông đeo đuổi vì cũng kiếm sống được. Cơ sở của ông khá bề thế, với trên 10 thợ. Muốn có tay nghề, hưởng lương cao, thợ phải có hoa tay và học suốt 3 năm. Đó là thời gian được rút ngắn nhiều so với hồi xưa vì tranh kiếng bây giờ được in lụa. Tranh kiếng in lụa theo từng chủ đề: tín ngưỡng, sự tích, phong cảnh đồng quê, vinh hoa phú quý, công cha nghĩa mẹ… Tất cả đều hoàn thành theo đơn đặt hàng của lái. Tranh in lụa sản xuất nhanh, sắc nét, giá rẻ nên đáp ứng được thị trường. Tranh kiếng của ông Hòa được người buôn sỉ đến chở đi nhiều nơi, chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long, xa nhứt là Nha Trang. Ngoài tranh kiếng truyền thống Nam Bộ, ông Hòa còn sản xuất tranh kiếng phục vụ nhu cầu của đồng bào Khmer. Ông Hòa cũng sản xuất một số tranh vẽ tay theo yêu cầu của khách. Tranh này do vợ ông, bà Lê Thị Tám, 46 tuổi, vẽ. Vẽ tay tranh kiếng “theo nguyên tắc vẽ tranh giấy của dân gian thì phải qua các công đoạn: phác thảo mẫu, tô màu, tô bóng. Cuối cùng là dùng mực đen vẽ mắt mũi con ngươi, hoặc điểm các gân lá, bướu cây. Tranh kiếng là loại tranh vẽ phía sau mặt kiếng, nên những chi tiết nào đáng lẽ vẽ sau thì phải vẽ trước” (*). Với nguyên tắc đó cùng tay nghề (học và làm nghề từ năm 8-9 tuổi), bà Lê Thị Tám đã có nhiều bức tranh đẹp, mỗi bức là một tác phẩm nghệ thuật. Bà đã được giấy khen “Bàn tay vàng” của huyện Chợ Mới.
Nghề mộc thủ công Chợ Thủ (Long Điền A) vẫn hoạt động rôm rả, ngày một phát triển. Theo Sơn Nam, Chợ Thủ là tên gọi tắt của Thủ Chiến Sai hay Chiến Sai Thủ Sở. Chiến Sai vốn là tên Kiến Sai (tên Khmer là Kiên Svai, có nghĩa là chòm cây xoài) nói trại ra. Thủ là đồn để canh giữ, bảo vệ việc đi lại trên sông rạch. Nhờ có gỗ súc từ Campuchia đưa về, cộng với tay nghề khéo léo của thợ từ miền Trung vào, Chợ Thủ phát triển ngành mộc, đủ sức cạnh tranh với hàng mộc từ Lái Thiêu (Bình Dương) và Biên Hòa (Đồng Nai) đưa xuống. Ông Lê Văn Toản, 70 tuổi, chủ một cơ sở mộc tại đây cho biết đây là nghề truyền thống mà ông học được từ cha ông, kế tục ông nội ông. Sản phẩm ở đây được người Nam Bộ ưa chuộng ngoài các loại hàng trang trí nội thất như tủ thờ, bàn ghế, bộ sa lông… còn có các sản phẩm cao cấp như cửa nhà, tay vịn cầu thang… Tất cả được làm bằng máy, sau đó mới chạm khắc tỉ mỉ, khéo léo, chăm chút từng đường nét, hoa văn, họa tiết bằng tay sao cho sống động, rồi đánh vẹc-ni hoặc sơn PU.
Từ hàng chục năm nay, nghề mộc địa phương chợ Thủ đã được “nhân rộng” tới chợ Bà Vệ. Ông Phan Hồng Đảm, 61 tuổi, làm nghề này từ nhiều năm nay, cho biết: nghề làm hàng mộc ở đây không thua Chợ Thủ, đóng đủ thứ theo nhu cầu, cũng sử dụng máy móc để sản xuất. “Tủ chén đi Sóc Trăng, Cà Mau đóng không kịp lái hối liền liền”, ông nói thêm: “Ghe trên 10 tấn chở khoảng 100 cây”. Cây là bộ tủ chén đóng rồi, tháo ra, tới nơi ráp lại. Tuy không sản xuất hàng gỗ cao cấp nhiều tính mỹ thuật như Chợ Thủ nhưng hàng gỗ gia dụng Bà Vệ cũng là một nghề đang thịnh, nuôi sống nhiều người.
Cạnh nghề mộc, ngày xưa Chợ Thủ còn thành thạo nghề ươm tơ dệt vải. Nguyễn Liên Phong viết trong “Nam kỳ phong tục diễn ca” như sau:
“Thủ Chiến Sai, xứ quê mùa,
Nhơn dân đông đảo, miễu chùa nghiêm trang.
Trại cưa dãy dọc, dãy ngang,
Chuyên nghề ươm dệt cả làng thói siêng.
Nam phụ (lão ấu) nội thôn (Tú Điền),
Đều là biết dệt nghề riêng trong nhà.
Xung quanh mấy chỗ gần xa
Mua hàng Chợ Thủ, tiếng đà xưa nay.
Trời sanh phong thổ cũng hay,
Trên tơ lụa đủ, dưới cây ván nhiều.
Công dung ngôn hạnh mỹ miều,
Gái hay thêu dệt, người đều thanh thao…”
Với bốn mặt sông nước bao quanh (sông Tiền, sông Hậu, sông Ông Chưởng và sông Vàm Nao), cù lao Ông Chưởng được ca dao xưa ca tụng “có nhiều cá tôm” là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, nghề vẽ tranh kiếng Long Điền và Long Điền B và nghề mộc Chợ Thủ mới là nét văn hóa dân gian đặc sắc rất đáng tự hào của người địa phương.

NĂNG GÙ- AN GIANG

Về Tên Gọi “Năng Gù” An Giang

nang gu- an giangNăng Gù là một địa danh khá quen thuộc của vùng Long Xuyên – Châu Đốc. Nhưng nhiều người thắc mắc: ở bến phà từ Châu Phú (An Giang) qua Phú Tân (An Giang) có tên là bến bắc Năng Gù, ở huyện Châu Thành (An Giang) cũng có nhà thơ mang tên Năng Gù, vậy Năng Gù là ở đâu?
Năng Gù là vùng đất thuộc huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, nằm gói gọn trên địa phận một cù lao nằm giữa ranh giới hai huyện Châu Phú và Châu Thành của tỉnh An Giang, ngày nay có tên hành chính là xã Bình Thủy. Cù lao này chia sông Hậu thành hai nhánh, nhánh nhỏ nằm cặp quốc lộ 91 cũng mang tên theo tên cù lao, gọi là sông Năng Gù. Cù lao Năng Gù được ghi lại trong “Đại Nam nhất thống chí” và “Gia Định thành thông chí” đều có những điểm tương đồng: “Ở phía trước hạ khẩu vàm Nao thuộc Hậu Giang dài 9 dặm, có thôn Bình Lâm ở đấy. Ở đây rừng tre um tùm, đầy dẫy ao cá, dân ở vùng thượng lưu Hậu Giang nhờ khai thác tre và cá tôm làm nghề sinh nhai hàng ngày, ngoài ra còn trồng bông kéo sợi và lúa gạo”.
Địa danh Năng Gù không biết ra đời từ khi nào. Nhưng cách đây hàng trăm năm đã có dân sinh sống. Sử cũ chép tên Năng Gù bắt nguồn từ “Long Cù” (cù hóa long) sau nói trại ra thành Năng Gù, nhưng theo giáo sư Huỳnh Ái Tông thì tên Năng Gù có nguồn gốc từ tiếng Khmer, giống như trường hợp Chắc Cà Đao và Mặc Cần Dưng. Chưa biết giả thiết nào chính xác hơn, tuy nhiên tên gọi Năng Gù đã ra đời từ rất sớm, và cũng là một trong những vùng đất được khai phá đầu tiên ở An Giang ngày nay.
Mặc dầu Năng Gù ngày nay là xã Bình Thủy, tuy nhiên trong dân gian còn tồn tại một “miệt Năng Gù”. Cần phân biệt hai khái niệm “cù lao Năng Gù” và “vùng (hay miệt) Năng Gù”.
- Cù lao Năng Gù: cù lao trên sông Hậu thuộc huyện Châu Phú, nằm dưới bến phà Năng Gù, nay có tên gọi hành chánh là xã Bình Thủy.
- Miệt Năng Gù: cù lao Năng Gù và vùng phụ cận, xưa “miệt” nầy bao gồm vùng đất giáp ranh Cái Dầu (Châu Phú) đến giáp ranh Chắc Cà Đao (Châu Thành).
Sở dĩ gọi là “vùng Năng Gù” hay “miệt Năng Gù” lá cách gọi quen thuộc trong dân gian lấy tên một nơi trung tâm để chỉ cho một vùng đất rộng, ví dụ như ta có thể thấy thị trấn Cái Dầu chỉ có diện tích nhỏ, nhưng trong dân gian vẫn tồn tại một “miệt Cái Dầu” bao gồm cả thị trấn ngày nay và một phần xã Bình Long, một phần xã Vĩnh Thạnh Trung ngày nay. Như vậy cù lao Năng Gù là xã Bình Thủy ngày nay, còn những vùng đất khác chỉ là do chịu ảnh hưởng trong dân gian về tên gọi Năng Gù mà thôi.
Ngày xưa địa giới “miệt Năng Gù” không rõ ràng, nhưng có một điều chắc chắn đó là giới hạn vùng đất này rất rộng. Chúng ta có thể khẳng định điều này qua một vài sử liệu:
- Đầu thế kỷ XVIII ông Dương Văn Hóa từ Cần Lố – Vĩnh Long đến khai phá cù lao này, đệ đơn lên xin phép lập làng, thôn Bình Lâm được ra đời trên cù lao Năng Gù, đồng thời quan Tổng trấn Vĩnh (sau này đổi thành trấn Vĩnh Thanh) phong ông chức “Trùm thi thâu” cai quản vùng này, tuy nhiên khu vực mà ông quản lí không chỉ có cù lao Năng Gù mà bao gồm cả vùng “xép” từ Cái Dầu kéo dài xuống giáp ranh Chắc Cà Đao.
- Trong quyển “Tìm hiểu đất Hậu Giang” nhà văn Sơn Nam viết: “Năm 1845, vùng Năng Gù phồn thịnh nhờ sự khai thác của nhóm người Công giáo mới đến”. Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu “vùng Năng Gù” trong đoạn này không chỉ riêng cù lao Năng Gù mà cả vùng Bình Mỹ, Bình Long (Châu Phú) đến An Hòa, Bình Hòa (Châu Thành) ngày nay. Vì ở cù lao Năng Gù tín đồ Công giáo rất ít, nhưng ở những vùng lân cận vừa kể trên thì số tín đồ Công giáo khá đông.
Có lẽ các vùng phụ cận của cù lao cũng được gọi là “miệt Năng Gù” vì ngày xưa nơi đây chưa có sự phân định rõ ràng về địa giới hành chánh. Cù lao Năng Gù lại là một trong những vùng đất được khai phá sớm nhứt tỉnh An Giang, chúng ta có thể thấy quyền hạn cai quản của cụ Dương Văn Hóa lúc bấy giờ được cho phép bao gồm cù lao Năng Gù và cả vùng đất rộng lớn nằm ngoài cù lao. Những vùng đất khác (như Bình Long, Bình Mỹ, An Hòa, Bình Hòa… ngày nay) lúc nầy chưa có tên gọi chính thức, nên chuyện được dân gian gọi một cách chung chung là “miệt Năng Gù”.
Như vậy ranh giới “vùng Năng Gù” xưa có thể tạm xác định là kéo dài từ giáp ranh Cái Dầu đến giáp ranh Chắc Cà Đao, càng về sau thì khu vực này càng hẹp dần, khi các vùng đó đã có tên gọi và địa giới rõ ràng thì không còn ai gọi là “miệt Năng Gù” nữa, đến nay tên Năng Gù chỉ còn trong phạm vi xã cù lao Bình Thủy mà thôi.
Từ sau khi nhà Nguyễn thống nhất đất nước, cù lao Năng Gù có tên hành chính là thôn Bình Lâm, thuộc Vĩnh trấn (sau đổi là trấn Vĩnh Thanh). Lúc bấy giờ trấn này có một phủ là Định Viễn, cai quản 4 huyện, 66 tổng, 353 thôn, thôn Bình Lâm thuộc huyện Vĩnh Định (vì huyện này thưa dân nên chưa chia ra tổng). Năng 1832, Minh Mạng đổi đơn vị “trấn” ra “tỉnh”, lúc bấy giờ An Giang có 2 phủ và 4 huyện, gồm phủ Tuy Biên (cai quản huyện Tây Xuyên và Phong Phú) và phủ Tân Thành (cai quản huyện Đông Xuyên và Vĩnh An). Thôn Bình Lâm thuộc huyện Tây Xuyên, phủ Tuy Biên.
Đến thời Pháp điều chỉnh phạm vi hành chính, chia 6 tỉnh ra 21 tỉnh trên toàn cõi Nam Kỳ. Năm 1901, thôn Bình Lâm đổi thành Bình Thủy thuộc tổng Định Thành Hạ, quận Châu Thành, tỉnh Long Xuyên. Đến 1929 thuộc tổng Định Thành, quận Châu Thành, tỉnh Long Xuyên với 4 ấp: Bình Phú, Bình Hòa, Bình Thới nằm trên cù lao và ấp Bình An nằm bên kia sông. Năm 1956 Bình Thủy thuộc Châu Thành, An Giang cho đến 1975.
Ngày nay xã Bình Thủy thuộc huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, có 6 ấp: Bình Phú, Bình Quý, Bình Hòa, Bình Yên, Bình Thới, Bình Thiện. Ấp Bình An (cũ) nằm bên kia sông sát nhập với một phần xã Bình Hòa (Châu Thành) thành xã mới An Hòa.
Trường hợp nhà thờ Năng Gù (ở xã An Hòa, Châu Thành) chúng ta có thể chấp nhận được, bởi vì tên nhà thờ đồng thời là tên giáo xứ, mà giáo xứ Năng Gù ngày xưa bao gồm cả cù lao Năng Gù và vùng phụ cận, nên mặc dù không nằm trên cù lao nhưng nhà thờ vẫn mang tên Năng Gù. Chính vì thế, nên Năng Gù được chọn làm tên đặt cho một giáo xứ rộng lớn.
Riêng bến phà đi từ xã Bình Mỹ (Châu Phú) qua xã Bình Thạnh Đông (Phú Tân) mang tên phà Năng Gù là hoàn toàn không phù hợp. Ta có thể thấy, việc ta gọi gộp Châu Đốc, Bảy Núi, Cồn Tiên là “vùng Châu Đốc” hay gọi gộp Long Xuyên, Thoại Sơn, Châu Thành là “vùng Long Xuyên” cũng không có gì sai. Tuy nhiên, không thể gọi bến phà Châu Giang là bến phà Châu Đốc, hay bến đò Cần Xây là bến đò Long Xuyên được. Phà Năng Gù cũng trong trường hợp nầy. “Vùng”, “miệt” hay “gi

CÁ CHẠCH KHO NGHỆ

Cá Chạch Kho Nghệ

Cùng với hệ thống sông ngòi chằng chịt, đồng bằng sông Cửu Long là nơi giàu nguồn lợi thuỷ sản. Trong đó có nhiều loại cá ngon, giàu chất dinh dưỡng như cá lóc, cá trê, cá rô, cá sặc, cá chạch…. Mỗi loại cá có những đặc điểm riêng và không phải mùa nào, con nước nào cũng có. Riêng cá chạch thường khá hiếm do cá thường sống ẩn mình sâu trong đất và vào thời điểm tháng 10 đến tết là lúc cá chạch có nhiều và ngon nhất. Người nội trợ thường mua cá chế biến thành nhiều món ăn như cá chạch nướng, chiên tươi, muối sả chiên, nấu canh chua hay làm khô.
Ngoài ra, còn có một món ăn cũng khá đơn giản nhưng không kém phần ngon miệng và thích hợp trong các bữa ăn hàng ngày đó là món cá chạch kho nghệ.
Cá chạch thường sống ở ao hồ, đồng ruộng. Có khá nhiều loại cá chạch như cá chạch khoang, chạch rằn, chạch bông, chạch bùn, chạch lá tre, chạch gai và chạch lấu. Cá chạch có da trơn, vảy nhuyễn, đầu và đuôi đều nhỏ nên rất khó cầm giữ bằng tay. Chính vì vậy, ngày xưa mỗi khi làm cá, người nội trợ thường dùng một ít tro để nắm giữ cá mà đánh vẩy.
Riêng đối với cá chạch kho nghệ, thường người ta không đánh đánh vẩy, cũng không bỏ ruột mà chỉ cắt bớt phần đầu và đuôi rồi rửa sạch cá, như thế khi chế biến thịt cá mới mềm hơn.
Chị Đặng Thị Kiều Thu, xã Long Mỹ – Mang Thít cho biết: “Rửa cá chạch bằng phèn sẽ quến nhớt vào cá thành ra mình ít dùng lắm, nên dùng bằng lá sả hoặc lá tre, dùng lá sả vừa thơm vừa sạch con cá.”
Để cá kho nghệ được ngon, thường người nội trợ hay chọn mua cá lớn, thịt nhiều, xương nhỏ. Thông thường, các loại cá kho thì thường được ướp để 15 phút mới chế biến nhưng món cá chạch kho nghệ thì khác. Sau khi phi hành hay tỏi thơm thì đổ nước, bột nghệ và gia vị vào. Đợi nước sôi mới để cá vào, cho lửa riu riu đến khi cá chín, nước hơi sánh lại là được, nếu kho bằng nước dừa cá sẽ ngọt hơn.
Cá chạch còn ưu điểm là thịt cá rất ngọt, béo và dẻ nên loại cá này được nhiều người ưa chuộng. Để món ăn thêm phần bắt mắt và kích thích khứu giác, trước khi dùng người nội trợ còn cho thêm hành và ớt xắt lát.
Món cá chạch kho nghệ thường dùng với cơm nóng, kèm các loại rau sống, bông súng hay rau càng cua bóp giấm là đúng điệu. Sự kết hợp hài hoà giữa cá chạch và các loại gia vị mà đặc biệt là bột nghệ không chỉ cho ra một món ăn ngon, độc đáo mà món ăn còn là một liều thuốc bổ rất tốt cho hệ tiêu hoá.
Bích Tuyền
Nguồn: THVL.vn